← Trang Vấn Đáp

Sư Giác Nguyên →



Mục lục :: Ghi chép
Vấn đáp – 06/07/2025

Hỏi: Con được biết Thắng Pháp dạy về tinh thần và cơ thể vật chất. Có thể dùng tri thức của Thắng Pháp để ứng dụng vào việc học Giáo Lý được không? Mong Sư hướng dẫn những cách học và nghiên cứu Giáo Lý tốt hơn hướng đến sự thực hành.
Đáp:
Có 2 thời lượng trả lời câu hỏi này:
• Dùng 3000 kiếp chết rồi đầu thai lại để trả lời câu này.
• Trả lời trong 2 phút.
Toàn bộ Thắng Pháp, tôi không biết "Thắng Pháp" quý vị nói là gì, theo tôi hiểu là Abhidhamma.
Abhidhamma dạy bản chất, cấu trúc, vận hành của Thân, Tâm, trong và ngoài chúng ta = Chúng ta học về mình, người khác và vũ trụ; Học về tinh thần & Vật chất.
Có học cái này mình mới có thể quan sát cái gì đang diễn ra, thấy được rốt ráo cái Vô Thường, Khổ , Vô Ngã. Có nghĩa là mình thấy được bản chất, cấu trúc, vận hành của nó. Những người không học mà đắc là vô lượng kiếp họ học rồi nên kiếp chót họ không cần học. Nếu tự xét thấy mình không ghê gớm vậy thì bắt buộc phải học.
Ở đời cũng vậy thôi.
Mình muốn mổ xẻ bàn tay, hàm răng phải có học, phải biết cấu trúc, cơ cấu nó mới làm việc với nó được. Muốn nấu nồi canh, luộc nồi rau phải có căn bản kiến thức nhất định, không thể mù tịt không biết gì. Đứa bé 3 tuổi không thể luộc rau, nấu nước sôi.
Muốn chứng đạo bắt buộc có trí tuệ giác ngộ, có 2 nguồn:
• Mình huân tu nhiều đời, bây giờ chỉ cần nghe qua hiểu.
• Bắt buộc phải học
Coi mình loại nào. Nếu thấy là loại một thì xin chúc mừng.
Học Đạo - Tam Tạng: Tạng luật mình cư sĩ khỏi rớ. Còn Tạng Kinh & A Tỳ Đàm, muốn hiểu tạng Kinh cần A Tỳ Đàm. PHải học 2 Tạng này mới biết đường tu tập Tuệ quán, Tứ niệm xứ, Con đường duy nhất dẫn đến giải thoát, dù con đường đó có lúc mang tên khác nhưng tinh thần, nội dung vẫn là con đường đó: Quan sát, Ghi Nhận, Theo dõi 3 cái - Bản chất, cấu trúc, vận hành của Thân, Tâm

Hỏi: Con đang chăm sóc mẹ bị bại liệt 6 năm nay và cảm nhận sâu sắc nỗi khổ của người bệnh và người nuôi bệnh, nên con có suy nghĩ: Sau này nếu con trở nên vô dụng và làm phiền người khác quá thì con sẽ nhịn ăn, chỉ uống nước, nằm cố gắng Niệm Phật và quan sát thân tâm chờ ra đi. Thưa Sư nếu con làm vậy có gì sai so với những gì Phật dạy không?
Đáp:
Có lần có người hỏi ngài Xá Lợi Phất: Ngài có Sợ chết không? - Không, ta không sợ chết.
Lại hỏi: Ngài có chán sống không? – Không. Ta không sợ sống, không sợ chết, không ham sống, không ham chết, ta chỉ không muốn trái còn xanh mà phải rụng, ta chỉ chờ duyên tới.
Ngài là Thánh ngài nói như vậy, mình chưa phải Thánh mình học được gì từ câu nói đó?
Trong đạo Phật mình, từ vô lượng kiếp, xưa gì mình cứ vật lộn với thích và ghét mà không biết chữ tùy duyên.
"Tùy duyên" = Cứ sống thiện đi. Tại sao đã tùy duyên mà phải sống thiện? Vì nếu ai cũng sống ác thì giờ mình sống ở đâu? Sống kiểu gì? Thế là mình tùy duyên nhưng phải sống thiện. Cứ sống thiện rồi chờ Duyên tới đưa mình đi. Thí dụ, Mình có vợ/ chồng, con, nhà cửa, mình hồn nhiên, thơ ngây và dại khờ tin tưởng và trông đợi ngày mình nằm xuống họ lo cho mình. Xin thưa, phần trăm đó thấp lắm. Có thể họ đi trước mình hoặc thời điểm mình nằm xuống họ không có khả năng lo cho mình. Con cũng vậy. Mình không chắc mình chăm nó rồi nó lo lại mình.
Có một chuyện rất phũ phàng.
Tôi nói lạc đề chút. Bà hàng xóm trên núi bả còn trẻ dữ lắm, mẹ bả, bà ngoại bả, ở sát bên tôi, tôi ngẫu nhiên quan sát mấy năm, bả dành hết tình thương cho con gái còn nhỏ xíu, giờ nó lớn rồi. Nhìn nó tôi ngậm ngùi lắm. Trời ơi, bà ngoại, bà nội mình, má mình, ba mình mình hờ hững chỉ tập trung cho đứa con. Nguyên đại gia đình ở chung chỗ tôi mới biết. Tôi biết chắc một chuyện, mai này đứa bé này mà 15, 18 mà nó có bạn trai thì mẹ nó chỉ là bóng mờ trong sa mạc thôi.
Tôi đã nói nhiều lần. Cha mẹ lúc bấy giờ trong lòng con cái chỉ là máy rút tiền thôi, chẳng có giá trị gì hết, vì nó có bạn trai, bạn gái rồi. Tôi biết tôi nói vậy những người con sẽ nổi điên lên, nhất là những người con đang chờ đợi để hưởng tài sản thừa kế nghe rất giận. Nhưng mình làm cha, làm mẹ phải nhớ cái đó. Cái đó có thiệt. Mình phải nuôi, dạy nó là trách nhiệm nhưng trông đợi quá nhiều ở con cái, ở người phối ngẫu tôi e mình sẽ thất vọng tràn trề.
Tôi quen biết bao nhiêu Phật tử, mà cách đây mấy hôm tôi tưởng tôi chết rồi. Tôi bị trúng thực, ăn nhầm đồ cũ. Lúc đó tôi gọi ai? Thầy, bạn, cha mẹ, anh em, tôi gọi ai? Gọi người dưng. Người dưng đó lên nói với tôi thế này: may là sư còn gọi con, sẽ có một ngày sư gọi cho bệnh viện thôi rồi lúc đó bảo hiểm nó lo cho sư.
Cho nên, tôi chốt lại: Thời này làm sao có bảo hiểm y tế cho xịn.
Tôi không kêu các vị định cư nước ngoài, nhưng nếu có bảo hiểm y tế cho xịn. Thấy bảo hiểm nước nào tốt thì đi ở nước đó. Nếu bảo hiểm trong nước được thì theo bảo hiểm trong nước.
Khi mình không muốn làm phiền con cái mình có nhiều cách lắm:
• Chuẩn bị bảo hiểm y tế
• Nếu hoàn cảnh đẩy đưa mà không được lựa chọn được, không có bảo hiểm thì nên coi mấy đứa cháu họ xa đứa nào tánh ok là nên đầu tư ngay bây giờ. Tôi biết cái đầu người Việt không chấp nhận được chuyện này. Tại sao con tui mà tui nuôi cháu? Kể cả con bạn tui mà thấy tánh nó được tôi cũng tin nó. Giờ dốc sức đầu tư cho con mong nó lo, sai bét, đừng hòng. Nó có hiếu tự động nó có hiếu, còn nó không có hiếu là tự động nó không hiếu. Đừng nói đầu tư, chỉnh sửa, giáo dục, trau dồi, rèn luyện, hun đúc, hàm dưỡng. Dẹp. Dẹp. Mấy cái đó không có.
• Phải tu tập thiện pháp chờ ngày ra đi trong lúc cận bệnh, cận tử.
• Đừng quá trông cậy con cháu, nên trông cậy tài chánh ở nhà băng & bảo hiểm y tế
• Giả định phải ở bên cạnh con mình vẫn phải sinh hoạt tự nhiên như một người Phật tử. Có nghĩa là con nó còn cho ăn thì mình ăn, còn cho uống thì mình uống. Trước đó mình có chuẩn bị rồi. Một là mình xin thẳng mày đem má vô chùa, giao cho thằng Tèo, thằng Tí, con mợ Tư, thím Ba gì đó. Chứ nó không ham gì nuôi người hấp hối đâu, nếu thấy nó bất hiếu. Nếu con nó ok, mỗi ngày cho lít nước, chén cơm thì nên ở với nó. Và nên dồn hết thời gian để tu tập chánh niệm.
Nhịn ăn nhịn uống tự sát là đi ngược tinh thần Phật pháp, đi ngược.
Phải nhớ: Thân người khó được. Trong hoàn cảnh đó mình vẫn sinh hoạt bình thường nhưng mình tận dụng thời gian cuối đời để tu tập. Lúc đó tu là dữ dội, mình tu gấp 5, gấp 10 bình thường vì lúc đo tu bằng toàn bộ sự thấm thía, toàn bỏ sự buông bỏ triệt để, rốt ráo của người tin Phật. Còn giờ mình chưa vào bước đường cùng mình tu yếu lắm. Lúc đó là lúc tu ngon nhất thì mình lại có ý quyên sinh, như vậy e rằng không nên.

Hỏi: Ông con không tu học, không biết về Niết-bàn nhưng có bố thí. Con làm theo cách Sư hướng dẫn ông con lúc sắp mất, con nhắc lại những việc bố thí ông làm và hướng dẫn ông quả nhân thiên cho đến lúc mất. Con có làm phước, giữ giới và hồi hướng. Con và gia đình có tông phái khác nhau. Gia đình làm theo cách của họ, bản thân con biết danh sắc mất đi lập tức có mới nhưng con vẫn thấy mình sân, phẫn nộ khi con phải làm theo làm theo cách của họ. Con nên làm sao mới đúng pháp thưa Sư?
Đáp:
Phật trí vô biên, Phật lực vô cùng, Phật tâm vô lượng nhưng không độ được người vô duyên. Phật còn không độ được người vô duyên mình là cái gì, mình là cọng rơm gì mà đòi hoán chuyển càn khôn, làm thầy đời thiên hạ, bao gồm những người không có duyên? Mình là cọng rơm cọng cỏ gì so với chư Phật? Chư Phật còn làm không được chuyện độ người vô duyên.
Cho nên, nhớ:
• Mình chỉ giúp được người hữu duyên. Chưa kể họ có duyên Phật pháp mà không có duyên với mình. Họ phải gặp thầy bạn nào kìa chứ không phải mình.
• Phật pháp chỉ dành cho MỘT hạng người duy nhất: Người biết chán sợ sinh tử, thấy sự hiện hữu của mình là tẻ nhạt, vô vị, vô bổ, vô ích, vô dụng, vô duyên, họ chán sợ hiện hữu họ mới thực sự có nhu cầu học đạo, hành đạo từ đó may ra chứng đạo. Người xưa giờ từ nhỏ đến già không phút giây nào hiểu lời Phật dạy – Mọi thứ là Khổ thì đừng hòng.
4 Sự Thật phải thấy để chứng thánh, dầu anh có là triết gia, nhà khoa học, nhà thơ, nhà văn, ăn mày, gái điếm, học giả hay nông dân, anh có đam mê cái gì phải nhớ:
• Có mặt ở đời là Khổ, có Sanh ra ở đời là Khổ.
• Phải thấy sự thật đầu tiên mới thấy mấy sự thật sau: Nếu mọi thứ là Khổ thì thích gì cũng thích trong Khổ, tiếp tục đầu tư trong khổ khác.
• Muốn hết khổ đừng thích trong Khổ nữa.
• Luôn sống và hành động bằng 3 nhận thức này chính là con đường thoát khổ. Con đường đó có tên là Bát Chánh đạo.
Chừng ấy điều nếu người nhà không có dịp hiểu, không có dịp nghe. Nếu thình lình họ lăn ra đổ bệnh mà mình giải thích cho họ thì tôi nói thật, tôi là người đầu tiên không tin. Không tin chuyện thuyết pháp cho người trớt quớt. Ai làm được tôi xin cúi đầu, riêng tôi tôi không tin, chuyện đó giống lấy muỗng đào núi.
Thứ hai chuyện bất mãn gia đình: Duyên gia đình tới đâu mình phải chịu tới đó.
Trong kinh có câu này hay: Tăng chúng là một đoàn thể hòa hợp và thanh tịnh, trong trường hợp không thể thanh tịnh cũng phải giữ hòa hợp, trong trường hợp không giữ được hòa hợp phải giữ Thanh tịnh. Đó là 2 thể tính tăng đoàn: Hòa hợp & Thanh tịnh.
Ở đây cũng vậy. Không độ được người nhà thì hãy giữ Hòa hợp. Giới hòa đồng tu, Kiến hòa đồng giải. Nếu không thể cùng quan điểm tri kiến, không cùng giới hạnh để tu tập thì tối thiểu phải có cái hòa: Khẩu hòa – nói cái gì cũng gắn kết bằng Từ tâm, Thân hòa - Làm gì đem lại sự gắn kết thương yêu nhau bằng từ tâm, ý hòa - không nghĩ về nhau với sự bất mãn. Tối thiểu, không giữ được lục hòa thì được 3 cái hòa đầu tiên.
Đằng này mình nổi máu anh hùng đòi giỏi hơn chư Phật độ luôn dòng họ, kể cả mấy người vô duyên, kém phước, thiếu trí. Độ không được nổi sùng lên. Mình quên là: Không cách nào mình giỏi bằng 1/tỷ của chư Phật hết. Trong khi chư Phật không độ được tất cả chúng sinh mà mình độ được thì đó là tham vọng tôi phải ngả mũ.

Hỏi: Cách nào để nhận biết được sự chứng đắc của các tầng thiền? Nếu thiền đúng thì Tưởng có tiếp tục sinh khởi không?
Đáp:
Chuyện thứ nhất phải nói, Không có thiền nào không có Tưởng. Không có thiền nào không cần Tưởng.
Các vị nghe có Cõi Vô Tưởng là người ta đắc thiền rồi người ta muốn không có tâm nữa, bèn nguyện sanh về đó. Sanh về đó như cái tượng trong bảo tàng, không có tâm. Muốn về cõi Vô Tưởng phải tu thiền bằng cái Tưởng. Tưởng đây là gì?- Tập chú vào 1 đề mục bằng ý niệm. Thí dụ: Đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, hư không, ánh sáng ... bắt buộc phải có Tưởng.
Đắc thiền làm sao biết? Yên tâm. Nó như câu: Làm sao biết tôi giàu. Ráng ăn xin chừng nào tài khoản nhà băng đủ 9 số tự nhiên biết. Đang mỗi ngày cầm thau khều khều người qua đường mà thắc mắc hoài: Không biết làm sao sau có bạc tỷ mà mình biết.

Hỏi: Ngài Buddhagosa là người dịch Kinh từ tiếng Sinhale qua Pali, thì các vị Tỳ khưu Sri Lanka thọ cụ túc giới bằng ngôn ngữ gì khi họ không biết tiếng Pali?
Đáp:
Một cách vắn tắt. Thời nay bà con có google, chat gpt, một rừng thiện hữu minh sư trên mạng ngoài đời, bà con về tìm biết thêm.
Tôi nói theo bộ Samantapasadika – Chú giải Tạng Luật, tiếng Pali từ muôn xưa, từ thời Đức Phật đã được sử dụng. Có điều thời đó là Khẩu ngữ - Oral Language, không có chữ viết, giống tiếng Nôm mình trước thế kỷ 10, Nguyễn Thuyên, mình chưa viết, nói thôi. Khi Phật pháp Đức Thế Tôn truyền thừa đệ tử, đệ tử truyền qua Tích Lan bằng Khẩu truyền, thông qua nói chứ không phải chữ viết.
Chờ đến thế kỷ 3 Phật lịch, ngài Mahinda con vua A Dục cùng chư tăng qua mới vận dụng các mẫu tự Ấn Độ có, trước khi Ngài qua Tích Lan không có chư tăng, thí dụ mẫu tự Brahmi – tên tự dạng Sanskrit được phổ biến thời đó. Đến hôm nay chúng ta biết chữ Sanskrit được viết từ rất nhiều tự giản, thí dụ Lan trác, Tất Đàn (Siddhaṁ), Brahmi, Kharosthi, ..là những mẫu tự được vận dụng tổng hợp lại hình thành, tạo ra mẫu tự Alphabet Tích Lan hôm nay chúng ta thấy. Thế kỷ thứ 3 Phật lịch, tức là Phật tịch 300 năm sau thì có Tam Tạng bằng chữ viết.
Đến thế kỷ 10, có nghĩa là 700 năm sau, ngài Buddhaghosa từ Ấn Độ qua mới dịch lại những kinh điển viết bằng Tích Lan cổ đời Mahinda lại tiếng Pali. Ngài san định lại các bộ chú giải nổi tiếng để gom thành một gọi là Aṭṭhakātha. Đó là: Mahā Kurundi, Mahāp Pachchari, Mahā-atthakatha san định lại thành một bộ gọi là Tipitaka Aṭṭhakātha – Chú giải Tam Tạng.


(hình: wikipedia)

Ngài Buddhaghosa san định lại 3 bộ Chú giải xưa, có từ thời ngài Mahinda. 3 bộ đó được lưu truyền trong 2 nhóm Abhayagiri (Vô Úy Sơn) và Mahāvihāra (Đại Tự) . Hai nhóm đó họ lưu truyền các bộ chú giải với những điểm dị biệt, ngài gom hết cả 3 bộ chú giải cùng với những văn bản đang được lưu hành ở 2 dòng Nam tông cực thịnh thời đó là Mahāvihāra và Abhayagiri, tổng cộng mấy nguồn ngài mới tạo ra bộ Chú giải Tam tạng bây giờ cả thế giới đang xài. Cả chúng tôi khi biên soạn Nhật tụng Kālāma hoặc bài giảng Nhật tụng chúng tôi cũng phải vào đọc trong đó, chứ chúng tôi làm sao dám tự biên tự diễn ngồi lấy kiến thức tiếng Việt của mình giải thích bản dịch ngài Minh Châu.
Trước khi ngài Buddhaghosa qua thì chư tăng vẫn làm lễ bằng tiếng Pali nhưng không có chữ viết.

Hỏi: Các ân đức của Dhamma có đầy đủ trong mỗi pháp học, pháp hành và pháp thành không? Vì sao? Sư nghĩ như thế nào về việc những vị xuất gia và cả cư sĩ tại gia mở lớp dạy thiền trong khi họ không có pháp học?
Đáp:
Chuyện thứ nhất, Ân đức Phật thì có vô số nhưng gom gọn có 9. Ân đức giáo Pháp, nét hay của giáo pháp có vô số gom gọn có 6. Ân Đức Tăng có vô số gom gọn có 9.
Ân Đức Pháp bảo bàng bạc khắp kinh điển, Phật ngôn.
Chúng ta có 2 cách nói về Ân Đức Giáo pháp: Pháp học & Pháp hành.
• Qua cách nói Pháp học: Pháp được Thế Tôn thuyết giảng hoàn hảo đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối, văn nghĩa cụ túc, nội dung đề cao Phạm hạnh.
• Qua cách nói Pháp hành: Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Người trí phải tự mình hiểu lấy, không vay mượn ai. Giáo pháp Ngài thách thức mọi thử nghiệm, Quả chứng vượt ngoài thời gian. Nhiều người không hiểu “vượt ngoài thời gian” là gì. Đạo & Quả nối tiếp nhau, trong khi mọi thứ ở đời Nhân và Quả phải cách nhau bằng thời gian, riêng cứu cánh giải thoát thì tâm Đạo Xuất hiện tâm Quả tiếp theo liền, vô gián. Là pháp dẫn đến hướng thượng trong khi những pháp môn khác dắt người ta đi xuống, hoặc đi vòng vòng, hoặc trở vào sanh tử, riêng lời dạy đức Phật Opanayiko - dạy mình đi lên, đi ra. Cái cuối cùng là Paccataṁ veditabbo viññuhi - Lời dạy đức Phật chỉ dành người trí, người không thiết tha tìm hiểu, hành trì không hiểu lời Phật dạy dù họ tưởng họ hiểu, họ thấy bài kinh có gì đâu, nhưng mà họ chỉ hiểu trên mặt từ vựng, nghĩa tự điển chứ không phải thâm ý, bản hoài kiểu Thế Tôn họ hiểu không nổi.
Nội dung Phật pháp đúng là nằm hết, lan tỏa, thấm đẫm trong từng chữ Phật nói. Phật dạy: Tất cả đại dương có một vị mặn, thì tất cả lời dạy ta có một vị là vị Giải thoát. Toàn bộ 6 ân đức pháp Bảo gom lại là 1 là Vị giải thoát. Chính đức Phật xác nhận, như biển chỉ có vị mặn thì lời ta dạy Đạo cho đời chỉ có vị giải thoát.
Vế thứ hai - Tăng ni không học giáo pháp mà dạy đạo thì xin trả lời trung dung thế này:
- Sao biết người ta có học hay không có học? Mình hỏi người ta đâu ai chịu nói không có học. Thôi thì Sức người ta tới đâu người ta hướng dẫn tới đó. Mình không thể nói người ta dốt.
- Thứ hai, cũng có thể trình độ họ giỏi hơn nhưng vì trình độ học trò, của thiền sinh tới đó thì buổi đầu abc họ dạy vậy thôi cho nên có giỏi bằng trời buổi đầu họ cũng phải dạy abc. Trường hợp hai là họ hiểu tới đâu dạy tới đó. Tuổi nhỏ làm việc nhỏ- tùy theo sức của mình, đúng như lời Bác dạy.

Hỏi: Kính xin Sư dạy cho con cách đối trị 5 triền cái. Con luôn thấy bản thân mỗi ngày bị Tham, Sân, Si chi phối... ngồi Thiền thì bị Hôn Thụy.
Đáp:
Đề nghị các vị đọc dùm 3 bộ sách :
1. Giáo lý ATD, bộ 2 cuốn của chúng tôi
2. Kinh nghiệm Tuệ Quán
3. Vipassana qua nhận thức Âu Mỹ, chúng tôi dịch.
Đọc 3 cuốn này bà con không cần đi hỏi mấy câu này nữa.
Mấy phần giảng quan hệ thiền chỉ -thiền quán, phần giảng về 5 triền cái, đặc biệt là đuôi quyển Kinh nghiệm Tuệ Quán nói về đối phó 5 triền cái, các ví dụ về 5 triền cái, về người bị triền cái, cách trau dồi 7 Giác chi.

Hỏi: Cư sĩ làm các ngành nghề: âm nhạc (ca-nhạc sĩ), diễn viên, thời trang, mỹ phẩm,… phạm vào điều giới thứ 7 của Giới Bát Quan, có phải là tà mạng không? Nghiệp và quả ra sao?
Đáp:
Trong room này chúng tôi nghi ngờ có bác sĩ, có dược sĩ, có mấy chuyên gia dinh dưỡng, có mấy chuyên gia thực dưỡng, ăn kiêng,... thì tất cả phải đồng ý với nhau một điều: Tùy duyên, tùy điều kiện, tùy hoàn cảnh mà chúng ta sống lành mạnh ở mức độ nào mà điều kiện bản thân cho phép. Chẳng hạn ăn kiêng, chúng tôi đang ở Thụy Sỹ khác người đang ở bên Lào, khác người ở Việt Nam.
Mình nói theo tinh thần nhà Phật, Tà Mạng = Kiếm sống bằng những phương thức mưu sinh hại mình, hại người.
Trong kinh có chỗ dạy nghề nào làm người khác rơi lệ đổ máu là tội ác, như là: buôn bán rượu, thuốc độc, vũ khí, thịt sống, buôn người là ác. Nhưng cũng có 2 bài kinh nói rõ: ai diễn xuất, ca hát có chủ ý làm người khác đắm say, mê muội, chìm sâu trong phiền não thì cũng là việc bất thiện. Đó là kinh nói.
Nhưng tôi hỏi thật bà con: Ai cũng muốn khỏe, muốn ăn kiêng mà điều kiện sao giờ? Có người không đụng một giọt rượu, có người hoàn cảnh đối tác nhiều khi tháng 2,3 lần. Mỗi lần nhẹ nhẹ sương sương.
Tam Tịnh Nhục, mình không sát sanh, mình ăn uống đúng luật tam tịnh nhục. Sẵn tôi nói luôn, có rất nhiều bà con hiểu sai chỗ này.
Tam tịnh nhục = Miếng cá, miếng thịt hội đủ 3 điều kiện: Không thấy, không nghe, không nghi.
Nhiều vị hiểu lầm không thấy là không thấy con vật bị giết, không nghe là không nghe con vật nó kêu, là nói tầm bậy. Con vật làm sao kêu? Chỉ có con bò, chó, heo, dê mấy con đó nó mới kêu chứ có nghe con cá, con tép, cua, ... kêu không?
Không thấy (Adiṭṭhaṁ) = Không thấy người ta giết để đãi mình. Mình tới mà thấy nó trói con thú lại, để cắt cổ, lột da là không ăn.
Không nghe (Asutaṁ) = Không nghe ai đó nói là món đó làm cho mình ăn, thằng bé nói má con giết gà đãi thầy, đãi cô, đãi anh; má con đặt ông giết heo lấy 10 ký đãi trai tăng. Phải nghe người nói. Chứ nghe vật kêu thì trong số bao nhiêu con mình ăn có bao nhiêu con biết kêu? Tôm, cua, hàu, hến, rắn, rít,... có con nào kêu để mình nghe đâu? Vậy mà bao nhiêu thế hệ Phật tử Việt Nam cứ tuyên truyền là không thấy con vật bị giết, không nghe tiếng con vật kêu. Không phải. Chỉ có mấy con biết kêu thôi, như con bò, con chó, con trâu, con gà, chứ đa phần còn lại con tôm, cua, chim, rùa,.. có con nào kêu đâu. Nó đâu biết kêu để mình nghe.
Không nghi (Aparisaṇkitaṁ) = Lòng mình không nghi hoặc, không ray rứt không biết có phải người ta phải giết để đãi mình không. Mình không nghĩ, mình biết người ta mua, miếng này nó làm sẵn ngoài chợ rồi,người ta mua về nấu cho mình ăn, mình không ray rứt.
Tùy duyên. Là cư sĩ mình giữ 8 giới, ngũ giới thì tốt quá, có trường hợp trong kinh nói rõ, có trường hợp là dvevācika upāsikā hoặc là tisaraṇagamanu upāsikā có nghĩa là có những người Phật tử họ chỉ quy y có Tam Bảo – con xin quy y Phật, con xin quy y Pháp, con xin quy y Tăng; Có những người quy y 2 bảo thôi, cũng là Phật tử, chưa có giới.
Quy Y Phật = Không theo tà sư
Quy Y Pháp - Không theo tà đạo
Quy y Tăng = không theo ác hữu

Có những trường hợp cư sĩ họ không có giới nào thì sao, cũng là cư sĩ. Miễn là có lòng tin Phật dạy cái gì, họ làm được bao nhiêu họ làm.Mình làm căng quá, thí dụ gia tài người ta chỉ biết hát, biết làm diễn viên mà mình quên đạo mình là đạo thông minh, đạo mình là đạo thông tuệ, đạo mình là đạo tùy duyên. Nghĩa là người ta làm được tới đâu mình thấy cái đạo phát triển là mình mừng.
Trên mạng lâu lâu có em đọc ba mớ vô phân tích chống người này chống người kia chứng tỏ ta đây, đủ thứ. Mấy tên chống như con dòi, đi ngang nghe mùi tanh cứ đem hết luật này luật kia, bộ này bộ nọ, phân tích từng chữ, kêu gọi hô hào chống đối chư tăng. Giờ còn mục nước cam lược 7 lần, nước chanh lược 18 lần, trái cây phải lấy kim chọt làm kappiya. Hỏi trái thanh long sao chọt. Nó đủ thứ hết. Phá đạo mà tưởng truyền đạo. Cái đó mới là tà ma ngoại đạo, mà không biết.
Theo tôi câu này trả lời thế này: Tùy duyên. Lời Phật dạy tu bao nhiêu thì tu. Ca sĩ không tà kiến quý hơn người không hát hò mà có tà kiến. Mình làm diễn viên mà có đạo tâm, ngoài vai diễn trở về vẫn là Phật tử tốt vẫn tốt hơn người không làm diễn viên, không làm ca sĩ tu như con dòi thì khó nói lắm.

Hỏi: Niết bàn có phải là chết hoàn toàn? Mục đích của việc tu học là đi đến sự chấm dứt tất cả?
Đáp: Ngày kia, con rùa gặp con cá, con cá hỏi con rùa lâu nay đi đâu cả tuần không thấy. Con rùa nói lên cạn chơi. Con cá nó hỏi, trên cạn là sao? Con rùa giải thích cả buổi mà con cá không hiểu. Con cá đó giờ chỉ bơi trong nước, nghe “trên cạn” nó....
Muốn hiểu Niết Bàn là gì phải tự hỏi lòng: Có hiểu Khổ là gì không? Phải thấy Mọi hiện hữu là Khổ. Thích cái gì cũng là thích trong khổ - thấy 2 cái này anh mới hiểu Niết Bàn là gì. Người hỏi câu này 1000% không hiểu 2 cái đó.
Khi anh không biết nhức răng là gì, anh không biết răng sâu ra sao thì anh không hiểu cảm giác hết nhức răng ra sao. Anh phải bị bệnh đó, anh mới hiểu cảm giác hết bệnh thế nào.
Y chang vậy.
Niết Bàn là Trạng thái, không phải là cảnh giới, chỉ người nào làm được 4 chuyện sau mới hiểu được:
• Người đó hiểu mọi thứ là Khổ
• Người đó trừ được nguồn khổ = không còn thích trong khổ nữa.
• Người đó hiểu sự chấm dứt cái thích là gì, cảm giác ra sao khi hết thích.
• Đời sống thuận theo 3 cái đó chính là con đường thoát khổ. Nói rộng là Bát chánhd đạo.
Có đủ 4 cái này. Bốn cái này có cùng một lúc. Học thì có cái trước cái sau, nhưng trong giây phút chứng đạo cùng lúc thấy 4 cái. Nó giống như mình nhìn bà đó mình biết bà đó là má mình, vợ ba mình, con dâu của ông nội và là con gái của bà ngoại, biết liền chứ không có lúc đó mới ngồi tính tính.
Muốn biết Niết Bàn là gì anh hứa là anh phải học đạo. Anh phải hành đạo để thấy Mọi Thứ là Khổ, Thích cái gì cũng là nguồn khổ. Muốn hết Khổ thì không còn khổ nữa. Phải thấy cái này mới biết à đây là nhức răng, hết nhức răng nó vậy nè.
Lập gia đình sướng vậy khổ vậy. Ly dị đã vậy. Chỉ có tên ly dị mới biết cảm giác đó. Tên ly dị mới biết cảm giác tối về mở cửa không thấy một đôi giày cao gót nào hết, không nghe mùi son phấn, về mấy giờ không ai cự nự, càm ràm, nằm chữ X trên giường. Cái đã đó người ly dị mới hiểu chứ thầy chùa độc thân nhỏ lớn nó không biết ly dị đã cỡ nào.

Hỏi: Có phải tất cả các giọt nước mắt của chúng sanh đều là tâm Sân? Kể cả khi khóc vì chiêm bái xá lợi hay đến Tứ động tâm?
Đáp:
Dứt khoát, khóc là sân. Dù có ngoại lệ này là khoa học có nói có nhiều trường hợp tuyến lệ bị kích thích: đau quá thì tuyến lệ kích thích; Mừng quá - tuyến lệ kích thích.
Mỗi lần tuyến lệ kích thích mình bèn gọi là khóc. Chữ Khóc nói đàng hoàng là phải là cảm giác tiêu cực. Còn mừng quá chảy nước mắt mà tiếng Việt mình nghèo cứ gọi là khóc.
Thí dụ như mới đêm hôm qua có người hỏi tôi một câu, tôi buồn ngủ tôi nổi điên luôn. Họ coi trong kinh đức Phật dạy người xuống nước có 4 nỗi đe dọa: Sóng lớn, cá sấu, nước xoáy và cá dữ. Người xuất gia cũng bị 4 họa giống vậy, họa cá sấu – suốt ngày bị ám ảnh bởi cái ăn uống; người xuất gia bị ám ảnh bởi nữ sắc – cá dữ; người xuất gia bị ám ảnh bởi ngũ dục – nước xoáy; người ta mới hỏi tôi sao đức Phật không gom con cá sấu với con cá dữ vô thành một mà Ngài chia thành 4? Tôi nghe mà, trời đất ơi, học lớp mấy rồi. Tại tiếng Việt của ta.
Giống như khóc, mình thấy chảy nước mắt là mình nói khóc, thật ra phải nói là tuyến lệ bị kích thích để bài tiết nước mắt. Nếu mình khóc, đúng khóc là tâm sân. Còn chảy nước mắt không phải khóc.
Đức Phật Ngài tách chữ kumbhīla (cá sấu) với chữ susukā (cá dữ) tại sao Ngài không gom chung? Lý do Pali là ngôn ngữ văn minh không xếp con cá sấu vào nhóm fish, nó là cripple, loài bò sát, nó có chân, có đầu, tập tính không giống con cá. Tiếng Việt thì gọi crocodile là cá sấu. Nó không phải là fish. Tại kẹt chữ "cá" nên nghĩ đức Phật dở hơn mình, sao không gom cá sâu vào cá dữ. Đối với Ngài cá sấu như loại kỳ nhông, kỳ đà, hay như con rùa komodo.
Bên Tàu con cá sấu nó kêu là ngạc ngư, cá kình là kình ngư. Việt nam dịch ngạc ngư là cá sấu. Tiếng Mỹ crocodile không phải là ngư, tập tính sinh hoạt và đặc điểm sinh học nó không giống. Ở đây chữ khóc cũng vậy. Mình phải nhớ, qua hành hương mà chảy nước mắt, tôi sẽ nói rất khoa học, tuyến lệ bị kích thích bởi một cảm xúc không thể kìm chế nó bèn chảy ra, tôi nghĩ nó không hẳn là khóc; còn nếu các vị nói khóc thì là tâm sân.

Hỏi: 1. Trong thiền Tứ Niệm Xứ, có phải vừa cần ghi nhận hiện tại diễn ra và vừa phải nhận biết sự diễn ra đó là gì (sanh diệt, thiện ác)? Nếu như vậy, khi nhận biết thì trong khi ghi nhận, rất dễ bị chìm vào nhận biết để rồi thất niệm, có phương án nào trong việc này không?
Đáp:
Tôi tránh không nói tên nhưng không thể không nhắc nó liên quan đến câu trả lời.
Bà con cẩn thận hiện nay có tình trạng củi đậu nấu đậu, có nghĩa là răng cắn lưỡi, trong cùng một họng mà cái răng cắn lưỡi. Có vị đi dạy thiền, đi thuyết pháp có chủ trương lạ là chỉ trích tất cả những ai nói không giống mình là tà hết. Mà mình đi dạy thiền, giả định mình có là pháp sư Tam tạng nói vậy đã không nên, nói chi mình cũng là tân thọ, 15-17 hạ thôi. Mà mình quăng một câu phủ nhận toàn bộ cái gì nó không giống não trạng, cái đầu của mình bèn phán sai hết. Rất không nên. Đây không phải là vấn đề cá nhân mà vấn đề văn hóa, văn hóa ứng xử, văn hóa xã hội nó ảnh hưởng đến đại thể, toàn cục của đạo.
Trong kinh gọi là khen mình chê người. Cái lợi trước mắt, giả định là mình được cung đốn cúng dường, nhưng cái đó nó nhỏ so với chuyện mình tấn công đại chúng tăng già, gây hoang mang cho Phật tử quần chúng, không phải thế hệ này mà nhiều thế hệ khác, những người nghe và đọc lại phần hướng dẫn của mình, và những vị khác. Thì tự nhiên mình mắc vào lỗi chia rẽ tăng một cách thụ động mà mình không hay.
Sở dĩ tôi phải đánh một vòng lớn. Vì những điều tôi nói, vị này nghe được đương nhiên sẽ nổi xung thiên, đó là: Làm ơn, bà con nhớ dùm cái này.
Tại sao mình sinh tử? Vì mình không hiểu được nguồn gốc, bản chất, cấu trúc, vận hành của bản thân, của vạn loại chúng sinh và của vô lượng vũ trụ. Chính vì không biết 4 cái đó cho nên mình mới có ngộ nhận, mình mới có thích ghét, mình mới có chọn lựa, mình mới có phân biệt. Có được cái tôi thích gọi là hạnh phúc; chịu đựng cái tôi ghét là đau khổ. Là thiếu trí.
Thiếu niệm là tôi sống như một cái xác chưa chôn. Tôi ăn mà cái đầu tôi nghĩ chuyện khác, tôi uống, đi đứng, tiêu, tiểu, tắm rửa, tiếp xúc, im lặng, đi đứng nằm ngồi, thân như thế này mà tâm trôi về bốn phương tám hướng. Tôi vừa đã không trí mà còn không niệm. Suốt vô lượng kiếp như vậy. Phật ra đời mới dạy Con phải sống có Trí, có Niệm. Đời sống của con phải paṭissatimattaṁ, ñāṇamattaṁ - hai chữ này Ngài – Đức Bổn Sư nói, không phải tôi, con phải sống có niệm, có tuệ để con biết rõ nguồn gốc, cấu trúc, bản chất và vận hành của bản thân con, của người khác, của 6 căn, của 6 trần. Và, Nền tảng tâm thức để con sống trong trí tuệ là Chánh niệm.
Cho nên, khi Ngài dạy Pháp môn Tứ Niệm Xứ. Tinh thần cốt lõi Tứ Niệm Xứ là anh sống thắp sáng hiện hữu, hồi quang phản chiếu, soi rọi hiện hữu, biết rõ cái gì đang thế nào. Nguyên pháp môn Tứ niệm xứ chỉ có 2 chữ thôi: What & How. Mình đang như thế nào? Cái gì vừa xuất hiện?
Tinh thần Tứ niệm xứ nguyên thủy nó gọn, sáng bằng trời. Rồi qua năm tháng, trên những bước đường du nhập, hoằng dương, qua diễn dịch của các bố hành giả. Người dạy người khác gọi là thiền sư, người học người khác gọi thiền sinh, chỗ nào 2 bố này gặp nhau gọi là thiền viện. Mỗi bố có nét riêng hình thành thiền phái. Mấy ông thiền sư đôi khi còn hiểu tại sao mình khác ông kia, ông kia khác mình cái gì còn đỡ. Nhưng đến đệ tử nó không còn tu nữ, nó “xếp bút nghiêng theo việc binh đao” dẹp thiền viện qua một bên, dẹp pháp môn qua một bên ngồi xăn tay áo chửi nhau, đứa này sai đứa kia đúng, đứa này tà kiến, đứa kia chánh kiến, đứa này bàng môn tả đạo, đứa nọ là pháp nhũ Phật thân tùm lum hết.
Trong khi nội dung rất căn bản: Anh phải thấy, phải biết Nguồn Gốc, Bản chất, Cấu Trúc, Vận Hành. Đó là Tuệ.
Anh biết anh đang sống, hoạt động đi đứng nằm ngồi... anh đang trong tình trạng hoạt động như thế nào, trên nền tảng tỉnh thức này nó lòi ra cái kia. Thí dụ, anh đang đi, đừng quán chiếu gì hết. Phải học giáo lý. Làm gì biết nấy. Tự nhiên Ba La Mật đủ tự nhiên nó sáng.
Nó y như chuyện: Tôi thương mẹ tôi, bà ngoại tôi. Tôi kế thừa miếng đất. Mẹ tôi thợ nấu ăn, bà ngoại tôi là thợ may. Tôi là gái quê sống trên mảnh đất đó. Tôi vẫn chăm bẵm, sửa đồ láng giềng, ra vườn ra ruộng tôi không cần niệm tên mẹ, tên ngoại trên môi, mỗi lần may tôi vẫn nhớ những kinh nghiệm bà ngoại dạy, tôi ra ruộng tôi nhớ kinh nghiệm má dạy. Vậy là có hiếu rồi.
Tứ niệm xứ cũng vậy. Pháp môn nào anh bảo đảm cho tôi 2 chuyện rõ: biết rõ What & How, anh căn cứ trên Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Cái nền phải là Thân quán, nếu là Nhân loại. Anh phải chánh niệm trên tiểu oai nghi, đại oai nghi trước, nói chung là Thân quán. Nếu không có chuyện gì làm thì quay lại hơi thở. Trong lúc đang đi, với tất cả sự tỉnh thức, không cần cưỡng ép, gò, trong tốc độ kiểm soát được lúc đó giận ai - bậy nha, tiếp tục đi, đi như một người đi chân trần trên chỗ không biết có kẽm gai hay miểng chai không, đi bằng sự cẩn trọng của người dẫm trên bãi cỏ ban đêm, trong lúc đang đi có tâm niệm, tục niệm, dục niệm nào thì biết. Rồi, xong tiếp tục đi nữa. Chỉ vậy thôi. Một ngày duyên đủ tự nhiên thấy đủ Bốn Đế, 12 Duyên Khởi. Đó là chuyện sau này. Chứ đừng quán chiếu: cái này là Danh đi, Sắc đi... tôi không nói cái đó sai. Nhưng có những người họ hợp cái đó rồi họ đi tuyên truyền, coi cái đó là chân lý tuyệt đối, tôi xin xác định cái đó không có trong kinh, không có kiểu danh sắc kiểu quái đản đó. Bởi vì, như ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên, ngài Anan, ngài Ca Diếp... các vị đâu đi theo con đường danh đi sắc đi, danh ngồi sắc ngồi, vậy không lẽ các vị tu sai à? Vấn đề là thấy rõ cái What, cái How thôi.
Chuyện thứ hai, Đối tượng đề mục.
Nói theo A Tỳ Đàm thì đã đành. Nói theo tinh thần khoa học ai cũng phải đồng ý: Không hề có cảnh hiện tại. Mặc dù chính trong kinh đức Phật có dùng Paccuppanna nhưng mà cái đó là Ngài nói cho chúng ta dễ hình dung, chứ khi mình ghi nhận được cái gì xuất hiện trong lòng mình thì lúc đó đã là quá khứ rồi. Cái này rất khoa học.
Tôi đang đi, lúc đó có tâm bất thiện xuất hiện, tôi lập tức biết rằng : Đây là tâm sân.
Mỗi sát na chỉ xuất hiện 1 tâm, mỗi tâm biết đúng một cảnh. Khi tôi đang đi, tâm chỉ biết cảnh đi, xen kẽ. Khi biết cảnh đi đó thì tâm biết biết cảnh cũ, lúc đó cái đi đã là chuyện cũ rồi; Lúc tôi biết tâm sân thì tâm sân đó đã mất, tâm ghi nhận là chánh niệm là tâm thiện, trí tuệ. Phải hiểu "hiện tại" là Tương đối và Tuyệt đối. Hiện tại chân đế và hiện tại tục đế. Hiện tại chân đế thì chúng ta không thể nào.
Khi đức Phật nói: Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng, quá khứ đã đoạn tận, tương lai thì chưa đến, chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính ở đây. Mình nghe mình nói, chính đức Phật kêu gọi hiện tại. Đúng. Nhưng mà phải hiểu hiện tại là hiện tại của Tục Đế, Thi thiết, Chế định. Chứ còn nói rốt ráo thì cái mình ghi nhận được là Quá khứ. Có điều nó là quá khứ gần nhất.
Người không tu sống với quá khứ xa, cách đây 1 phút, 3 phút, 5 phút, 10 phút, 1 tiếng, 2 tiếng, 1 tháng, 2 tháng, 1 năm, 2 năm,...
Người có Tứ Niệm Xứ, có chánh niệm luôn biết quá khứ gần nhất. Giống như ngoài đời đi học mình nói H2O, Nitrogen, oxygen,...nhưng ra quán nước kêu nước chanh chứ nói H2O, glucid, glucose, sao người ta hiểu. Rồi mình nói ai đánh rắm hả chứ ai nói phốt-pho ai mà hiểu là cái gì. Nhà có tui với bà mà tui nghe mùi nặng quá bà ăn nhầm gì hả?
Ở đây cũng vậy. Trong trường hợp nào mình xài từ chuyên môn và trong trường hợp nào mình xài từ thường thức. Bà con làm ơn nhớ dùm cái đó.
Bữa nay tôi nói rõ 2 chuyện:
• Chuyện thứ nhứt đó là: Pháp môn Tứ niệm xứ có nhiều cách hành trì tùy duyên, đừng bao giờ bậy bạ cho rằng, U Pandita đúng Pa Auk sai, Pa Auk đúng Mogok sai. Cái đó cực kỳ không nên, quá sức không nên. Giống như ăn kiêng. Ăn kiêng mỗi người kiểu ăn kiêng khác nhau, miễn sao giúp được cái thận, cholesterol,.. của mình ok, huyết áp ok. Chứ đừng đi áp dụng kiểu ông Sâm bắt ông Kiên ăn, ông Kiên bắt ông Nhân ăn, ông Nhân bắt tui ăn giống mấy cha. Là dốt nát, ngu xuẩn. Tại vì thể trạng mấy cha khác tui nhiều lắm. Ông nào ông nấy 70,80 ký, tôi bữa nay có 54 ký, nó giật tôi nguyên tuần còn 51 ký.

Hỏi:2. Trong thiền định, việc lấy tầm giúp bỏ thụy miên, tứ đối trị với nghi là tính chất hay là phương pháp? Nếu là phương pháp thì có phải là chủ động suy nghĩ tới thiện pháp?
Đáp:
• Phải mua sách
• Ngay trong kinh, cũng có trường hợp đức Phật Ngài dạy tu đề mục Asubha- Bất mỹ (Tàu dịch Bất tịnh nhưng Pali là Bất mỹ) để đối phó tâm tham. Tâm từ đối phó tâm sân,...Thật ra tùy duyên người trước mặt mà Thế Tôn dạy như vậy.
Toàn bộ pháp môn Tứ niệm xứ hay 37 Bồ Đề phần nói chung không có cái nào dành riêng trị riêng phiền não nào. Bằng chứng có người tu Thân quán chứng Thánh, có người Thọ Quán chứng thánh,... chứ không có chuyện phải tu Bất mỹ trừ tâm tham, nói vậy kẹt lắm.
Vì căn duyên người trước mắt mà Ngài dạy vậy.
Mình phải hiểu bằng cách nào đó ra khỏi khu rừng. Bằng cách nào ra khỏi khu rừng, Ngài chỉ mình con đường đó, thỉnh thoảng Ngài nhắc: Nhớ đem theo nước uống nha con, hoặc có những cái nhắc đặc biệt, thí dụ con bị tiểu đường nhớ thuốc tiểu đường nha, nhớ thuốc cao máu nha, thuốc trợ tim, nhớ nha. Là những trường hợp đặc biệt, Ngài nhắc. Nhưng căn bản là : Con đường này nè, ra khỏi rừng. Chứ Ngài không nói riêng là muốn ra khỏi rừng phải mang dép màu tím hoa sim, mặc áo màu vàng chanh, mỡ gà mới ra khỏi rừng. No. Tùy người.
Có người Ngài biết mình thích màu vàng, Ngài biết mình phải vui vẻ mình mới siêng đi nhiều được, Ngài nói: Thôi, con mang dép da Ý, áo lụa Ý màu mỡ gà vàng chanh gì đó, con nhớ mang theo nước multivitamin,... tùy người mà Ngài nói vậy thôi. Chứ miễn sao mình đi đúng con đường và mình có nước uống, có thức ăn trên con đường đó nó mới quan trọng. Ở đây cũng vậy. Chuyện nói đề mục này đối phó cái này.. những bài kinh đó có thật, nhưng là do căn duyên người ngồi trước mặt, chứ còn tất cả toàn bộ Tứ Niệm Xứ đều có công dụng cắt đứt phiền não.
Nếu anh tu Thân Quán niệm xứ mà đắc Tu Đà Hườn thì ngay lúc đó anh trừ được Thân Kiến, Hoài Nghi, Giới cấm thủ rồi; Nếu anh đắc đạo bằng Thân quán niệm xứ/ Pháp Quán niệm xứ/... mà đắc Tam Quả, đắc A La Hán tùy anh. Tôi không biết anh bằng Đề mục nào nhưng hễ đắc Tam Quả tự nhiên không còn Dục ái và Sân. Dục ái là thích sắc, thinh, khí, vị, xúc.
Cho nên, có những bài kinh có vẻ đức Phật Ngài nhắc riêng một đề mục nào đó, nhưng vì đối tượng trước mặt thôi. Chứ chúng ta phải hiểu: Không có đề mục nào để trị riêng phiền não nào. Không có. Còn riêng chuyện nói 5 chi thiền đối phó 5 triền cái thì xin thưa cũng Tùy Duyên. Đối với thằng Tèo khác đối với thằng Tí. Vì sao? Vì có người nói Định nhiều sinh hôn trầm, có người nói nhờ tầm trị hôn trầm,... theo bản thân tôi thì Tùy Duyên. Có người vậy, người khác. Nó như mắt xích sên xe đạp, hoặc cuộn chỉ len cắt một cái thì nó chia hai. Ở đây cũng vậy. Tùy duyên, bằng bất cứ đề mục nào, có người cái A hỗ trợ cắt cái B, C cắt F, D cắt N,... nhưng Quan trọng nhất là mấy cái này bị cắt và khi cắt thì vòng tròn không tiếp tục nữa. Có được yếu tố tâm lý mà mình gọi là chi thiền này thì 5 triền cái không còn nữa.
Tôi chịu trách nhiệm câu nói này. Tùy người. Không hẳn luôn luôn là tầm phải đối phó cái gì, Tứ đối phó cái gì. Theo tôi cái đó là một cách nói diễn dịch tùy duyên của vị thuyết giảng. Chứ đừng khư khư cho cái đó trừ cái kia thì tôi không đồng ý. Tôi không nói nó sai, nhưng nó chỉ đúng ở chừng mực nào đó thôi. Vì có những người họ phải bắt đầu con đường giải thoát bằng pháp bố thí, trên nền tảng bố thí đó họ mới có được cái hỷ duyệt, khi họ hoan hỷ như vậy thì chánh niệm họ tốt hơn, thiền định, trí tuệ họ tốt hơn họ đắc đạo. Nhưng có người họ không cần. Có người chỉ cần cho họ quét tháp, quét chùa, hốt rác, trong lúc làm họ hoan hỷ mới đắc đạo. Rồi còn có người họ không phải bố thí, không phải phục vụ mà cho họ nghe pháp, cho họ nghe pháp họ tâm đắc cái gì đó ngay tại chỗ ngồi đắc cái bụp, chứ họ không cần bố thí, không cần phục vụ. Còn có người phải bắt họ qua giai đoạn giữ giới, phải kiềm cặp, đóng khung họ một thời gian cho họ sạch sẽ, yên tâm xong họ mới đắc đạo được. Nhưng có người không qua giai đoạn đóng khung đó, không cần. Có rất nhiều vị đang đi lơn tơn ngoài đường, gặp đức Phật, đức Phật phán một câu bèn đắc, như ngài Bahiya chẳng hạn, trước đây ngài đi ngoài đường tỉnh bơ, ngài gặp Phật, ngài quỳ xuống, đức Phật dạy cho ngài mấy câu, ngài vô gốc cây ngài ngồi là ngài chứng La Hán. Quy trình Tam học của ngài đâu giống như mình.
Mình là vô cạo đầu, đắp y, hướng dẫn ăn, mặc, ở, rồi rừng sâu núi cao, rồi phải đói lạnh, bệnh hoạn, đường mưa trơn trợt, giữ 227 giới, 13 hạnh đầu đà bị chúng chửi như chó như mèo, bạc đãi thị phi,... tùm lum hết cuối cùng 80 năm sau bèn đắc A La Hán. Còn có vị họ chỉ nghe một câu là đắc.
Cho nên, mình không thể nào đóng khung lời dạy của Phật được. ở đây ai học tí khoa học, biết chút y, dược thì hiểu. Chúng ta có nhiều cách để tạo ra cái gọi là sức khỏe thì hiểu, không phải tất cả mọi người phải uống đúng thuốc đó, liều lượng đó, thành phần đó. Thì tôi nghĩ phải xét lại.
Ok. Bài giảng đã xong. Chúc quý vị ngủ ngon./.

Kalama tri ân cô Diệu Hỷ ghi chép.


Mục lục
    1. Pháp đàm 04/09/2022
    2. Pháp đàm 18/09/2022
    3. Pháp đàm 25/09/2022
    4. Pháp đàm 02/10/2022
    5. Pháp đàm 09/10/2022
    6. Pháp đàm 16/10/2022
    7. Pháp đàm 23/10/2022
    8. Pháp đàm 30/10/2022
    9. Pháp đàm 27/11/2022
    10. Pháp đàm 04/12/2022
    11. Vấn đáp – 06/07/2025
    12. Vấn đáp – 13/07/2025
    13. Vấn đáp – 20/07/2025
    14. Vấn đáp – 17/08/2025
    15. Vấn đáp – 05/10/2022

    ← trở về trang Vấn Đáp

    © www.giacnguyen.com