← Trang Vấn Đáp |
| Sư Giác Nguyên → |
|
Mục lục :: Ghi chép Vấn đáp – 17/08/2025
↑ Hỏi: Làm sao để thực hành Buông bỏ mà không bị rơi vào tâm thái vô trách nhiệm với gia đình, xã hội? Đáp: Một cách vắn tắt thôi. Chữ “buông bỏ” = Không dính mắc một cách không cần thiết. “Dính mắc” không phải ngồi yên không hoạt động. Dính mắc không phải là tiếp tục dính mắc một cách không cần thiết. Chuyện phải làm thì mình làm. Đương nhiên điều này khó, phải thực tập, không phải nghe là làm được, không phải dễ đâu. Tôi ví dụ: Mình giúp đỡ con ruột với người bà con mình thấy khác nhau nhiều. Con chú bác khổ thì mình giúp theo khả năng, không giúp đc thì thôi, mình hoàn tất trách nhiệm nhưng không biến trách nhiệm thành gánh nặng. Đối với con mình thì khác. Con mình gặp chuyện mình giúp tận lực, con ở xa mình nhớ, ở gần mình thấy nó hư đốn thì mình khổ. Khi mình với đứa con có sự luyến ái, dính mắc bên cạnh trách nhiệm nó còn gánh nặng, đối với người bà con, bạn bè thì mình giúp được thì giúp không giúp được thì thôi. Buông bỏ = Không tiếp tục dính mắc, không phải khoanh tay ngồi yên, thúc thủ không hành động. Hai cái khác nhau. Bên giúp bà con mình giúp bằng trách nhiệm chứ mình không biến người bà con thành gánh nặng. Còn đối với đứa con nó vừa là trách nhiệm vừa là gánh nặng. ↑ Hỏi: Sư có chia sẻ một video nói về lối sống “lạnh lùng”. Đức Phật có dạy về lối sống tương tự như vậy không và Ngài dạy cụ thể ra sao? Đáp: Chữ “lạnh lùng” hiểu theo ngoài đời rất tiêu cực. Nhưng chữ lạnh lùng hiểu tích cực trong đạo = Nằm giữa 2 cực đoan cảm xúc = Không ghét, không thương gọi là lạnh lùng. Phàm phu mình khổ và tạo bao vấn đề rối rắm vì mình vướng kẹt trong 4 cực đoan: Thích, Ghét, Buồn, Vui. Cái gì mình thích, mình vui thì kiếm tìm, theo đuổi. Cái gì mình ghét, làm mình khổ thì mình trốn chạy, tống khứ, chối bỏ, đập đổ. Cả 4 cực đoan này làm mình không được trung thực, khách quan. Lạnh lùng = Nằm giữa không kẹt trong thích, ghét, không coi nặng trong sướng, khổ. Thái độ này không dễ, phải thực tập, huân tu nhiều đời, đến kiếp này biết Phật pháp phải tiếp tục huân tu, ôn tập, thực tập nhiều lần, không phải chỉ nghe là làm được. Sống trong nhận thức rõ: Mọi thứ do duyên mà có, Cũng do duyên mà mất đi. Nhận thức này trước mắt áp dụng theo kiểu tự kỷ ám thị, lâu ngày nó thành máu xương, nền tảng nhận thức thật sự của mình, một ngày một buổi không sống lạnh lùng được đâu. ↑ Hỏi: Đức Phật Ngài dạy: Một người thường xuyên sống trong Thiện Pháp mà lỡ có tai nạn thình lình, tấm thân này nó có tan nát như mảnh lu này thì người đó vẫn có khả năng sanh Thiên. Vì bình thường họ sống với Tâm nhẹ nhàng. Như vậy, tại sao CẬN TỬ NGHIỆP lại đóng vai trò quyết định việc TÁI SINH? Đáp: Làm ơn nhớ kỹ cái này: Trong kinh Bắc truyền có cho mình một hình ảnh ví dụ rất hay. Nếu tôi nhớ không nhầm là của tổ Hale Bạc man, tổ nói: Mình nên coi kinh bằng cách thức của con cọp mẹ tha cọp con = cắn chặt quá thì con bị thương, cắn lơi, nhẹ quá thì con rớt. Người coi kinh phải coi kinh, nghe pháp bằng thái độ đó. Tức là - Có những pháp thoại, câu nói của đức Phật trong hoàn cảnh đặc biệt nào đó không thể đem ứng dụng cho tất cả mọi hoàn cảnh khác. Thứ hai, Ngài nói vậy mình phải hiểu sao cho đúng, không phải ôm từng chữ. Thí dụ, Ngài dạy ông hoàng Mahānama thường xuyên tu tập thiện pháp lỡ có bề gì cũng được sanh thiên như cái lu chứa dầu đem qua sông, dọc đường cái lu có vỡ thì dầu nổi, những mảnh vỡ của lu nó chìm, như cái thân này có bị rớt máy bay, xe tông, đá đè mình vẫn sanh thiên vì khi sống bằng tâm thái nhẹ nhàng thì khi chết mình bốc hơi. Khi sống bằng bất thiện thì như nước thể lỏng tìm chỗ thấp nó chui xuống. Khi sống bằng thiện thì tâm mình như nước dạng khí, bốc lên cao. Trong Chú giải nói, trường hợp này hơi chua. Chú giải nói sống theo thiện pháp có bề gì sanh thiên, phần chắc chắn chỉ có thánh nhân từ Tu Đà Hườn trở lên thôi. Đó là Chắc Chắn. Chứ còn phàm phu mình chuyện “thường xuyên tu tập” mà bị tai nạn chết sanh thiên thấp. Vì sao? Vì thiện pháp của Thánh nhân có định mức. Thí dụ : Tu Đà Hườn niềm tin bất động với Tam Bảo, dầu chết không phạm giới, không làm chuyện hại người. Phàm phu mình không có định mức. Mình nói ông đó thường xuyên tu, nói người đó mát mẻ đó là khi chưa gặp chuyện. Gặp chuyện là họ cũng nóng như người không biết đạo vậy. Nói ông đó tu mà vẫn ghen tuông, tham lam, đa cảm, đa tình, lãng mạn, có khả năng bê bối này nọ. Chưa gặp thử thách cám dỗ thì ổng tu hành rất là tốt. Nhưng mà khả năng sa ngã ổng rất lớn. Chẳng qua - Một là ông khéo dấu, hai là mình chưa tận mắt chứng kiến thì mình cứ nói là ông đó thường xuyên tu tập. “Thường xuyên tu tập chết sanh thiên” là chỉ có thánh nhân từ Tu Đà Hườn tới A Na Hàm mới chắc chắn thôi. Chứ còn Phàm phu khoản này không chắc. Vì "Thường xuyên tu tập" của mình rất mơ hồ và không định mức. Cận tử nghiệp cũng vậy. Cận tử nghiệp của bậc thánh mới xài được. Cận tử nghiệp của Phàm phu rất bấp bênh.Vì kiểu tu tập của mình nó không có định mức, rất mơ hồ. Thí dụ, A – B – C – F bốn người người nào mình thấy cũng tu tập tinh chuyên, nghiêm cẩn nhưng mà chắc chắn 4 cái miên mật của 4 người không giống nhau: • Có người thiền tốt nhưng nặng tình gia đình. • Có người thiền tốt vẫn kín đáo nặng lòng tài sản. • Có người thiền tốt nhưng lúc thiền ngủ nhiều hơn tỉnh thức. • Có người mình thấy họ tu hành tốt nhưng sân si mãnh liệt, thù dai, nhỏ mọn. Mà phần này mình không thấy. Mình chỉ thấy họ ngồi xếp bằng thôi. Nhớ cẩn thận cái đó. “Thường xuyên tu tập gặp nạn sanh thiên" 100% chỉ là thánh nhân thôi. Còn phàm phu chỉ vài, ba phần trăm. Cận tử nghiệp cũng vậy. Bởi vậy mới có chuyện đức Phật dạy sanh làm người, làm trời khó. Khó như rùa mù ngoài biển trăm năm trồi đầu lên một lần mà ngẫu nhiên chui lỗ ván có lý do không phải không. ↑ Hỏi: Vô tình phạm ngũ nghịch đại tội có đoạ địa ngục sau khi chết không? Đáp: Chú giải nói: Đã ngũ nghịch đại tội dầu vô tình hay cố ý đều bị đọa. Thế nào trong room có người nghe cũng nhảy dựng lên. Chúng tôi cũng từng nhảy dựng khi đọc trong kinh nói vô tình phạm ngũ nghịch đại tội vẫn bị đọa. Sau đó coi kinh giải thích cũng thấy dễ hiểu, có lý: Lửa mà mình vô ý chạm vô mình vẫn bị phỏng, điện sơ ý chạm vô vẫn bị giật. Một chứng minh nữa - Mấy người đặt bát cho chư Phật, chư thánh lúc đặt bát họ đâu biết Phật là gì, ngay cả Phật tử không học giáo lý mình đâu biết Phật là gì, chỉ thấy khả kính thôi. Người đó sạch sẽ hơn mình, mình chỉ biết vậy thôi. 99,9% trên đường du hóa đức Phật gặp là người không biết Phật pháp, không biết đạo. Chỉ 0.1% là từng học giáo lý, biết Phật, Thánh, Phàm là gì, 99% là không biết. Vậy mà họ cúng đường cho Ngài công đức vẫn lớn hơn cúng dường cho đối tượng khác. Một chuyện nữa. Trong kinh nói vị xả thiền Diệt = thiền không có tâm - suốt 7 ngày không ăn uống gì - Khi họ xả thiền Diệt ai cúng dường cho họ thì công đức quả trổ ngay nhãn tiền, mà người cúng đâu có biết vị này mới xả thiền Diệt đâu. Người ta nhịn ăn 7 ngày nên bữa ăn hôm nay rất quan trọng, mang ý nghĩa cứu mạng. Khi mình cúng dường bữa ăn đó dầu mình không biết gì công đức vẫn trổ nhãn tiền. Đây là minh chứng cho trường hợp mình không biết gì nhưng quả vẫn trổ. Riêng Ngũ nghịch đại tội, mình ngẫu nhiên là người lính ngoài chiến trường, mình bắn người lính bên đối phương, người lính đó là bố ruột của mình, hoặc là ngẫu nhiên bắn một người, người đó lại là mẹ mình. Trong kinh vẫn gọi là ngũ nghịch đại tội. Đương nhiên đi địa ngục là vẫn đi nhưng nó nhẹ hơn mình cố ý giết một người mà mình biết 100% là cha, mẹ mình. Trong Chú giải nói, vô ý vẫn kể. Trong kinh có cho mình mấy bằng chứng như tôi vừa nói: Cúng dường đức Phật mà không biết đó là Phật, chỉ biết là một tu sĩ thôi; Cúng dường người xả thiền Diệt chỉ nghĩ là vị tỳ kheo, người tu chứ mình không biết thiền Diệt là gì, cũng không biết vị ấy vừa trải qua 7 ngày thiền Diệt. Công đức nó vẫn có. Người biết cúng phước nhiều hơn. Nhưng không biết họ cúng thì phước vẫn không ít. ↑ Hỏi: Nếu kiếp này mình học Vi diệu pháp rồi kiếp sau mình quên thì quá uổng! Vậy có cách nào khiến mình học và giữ được hiểu biết không ạ? Đáp: Người hỏi có câu trả lời mà không biết vận dụng để tự trả lời. Khi các vị hỏi câu này, tự hỏi lòng mình: Các vị có tin Phật không? Có tin lời Phật dạy không? Mình có tin là mình đã luân hồi vô lượng kiếp không? Có tin rằng mình trong vô số kiếp đã là những nhà khoa học, nhà toán học, nhà vật lý, nhà giả kim cực kỳ giỏi, những thầy bùa, thầy pháp, nhà chiêm tướng, phong thủy, ... trong vô lượng kiếp chúng ta học qua hết. Ngay khi hỏi, bà con rà lại coi chúng ta còn lại bao nhiêu kiến thức? Cái gì mình cũng biết qua nhưng qua nhiều kiếp luân hồi làm heo, làm chó, làm trùng, làm dòi, làm bọ, ... giờ mình trồi trở lên mình còn nhớ gì không? Không chỉ A Tỳ Đàm mà vô số kiến thức khác. Có điều: Cái gì mình có lòng thiết tha thì khi tái sinh trở lại mình bắt nhịp nó nhanh. Tôi ví dụ, ba chuyện tầm bậy, hại người mình đã có hứng thú nhiều đời và làm vô số lần. Bây giờ sanh ra mấy chuyện bậy không ai dạy mình làm được. Đó là chuyện bậy. Giờ qua chuyện tốt: Nhiều người có năng khiếu toán học, hội họa, kiến trúc,... là tập khí họ huân tập nhiều đời. A Tỳ Đàm cũng vậy. Nếu học cho vui, không thiết tha gì hết thì nó trôi tuột. Nếu hiểu tại sao học và mình có thích thú thì nó thành ấn tượng tâm lý mai này có điều kiện mình học lại rất dễ, rất nhanh, mau có hứng thú, mau tiếp thu, mau liễu ngộ. Bằng chứng là trong kinh nói, nhiều người khi gặp chư Phật nghe một câu là bao nhiêu kiến thức từ nhiều đời lập tức thành nền tảng cho họ hiểu ngay. Chẳng hạn - Ngài Xá Lợi Phất chỉ nghe vị tỳ kheo, ngài Asajji nói một câu ngắn gọn là ngài đắc liền. Nói rằng những gì mình học nó mất cũng có đúng, có sai. Phải hỏi rằng tại sao đúng tại sao sai? Đúng - nếu từng thiết tha, có ý tưởng đầu tư, khi quay lại nó là phần vốn liếng của mình. Vốn liếng này không phải được tích trữ A Lại Da Thức, mà nó là thói quen, tập tính, không phải được lưu ở đâu hết. Trong A Tỳ Đàm không nói có chỗ lưu trữ, chỉ nói mọi thứ là thói quen. Cái gì thoáng qua mình làm lơ thì nó mất. Bằng chứng - Chúng ta nhiều đời là Phạm thiên, Đạo sĩ có thiền định, sao giờ ngồi thiền không được? Vì kiếp xưa sau khi đắc thiền, thực hiện thần thông, sau khi về Phạm thiên, quay lại cõi thấp mình không thiết tha nữa, buông luôn. Giờ nghe thiền ham, thần thông ham, nhập định ham nhưng quay lại rất khó. Vì nhiều lý do: Một là tâm đầu thai mình kém quá – trong A Tỳ Đàm nói là do thiện pháp công đức mà mình đã tạo, mình sanh ra bằng tâm đầu thai nào, chính tâm đầu thai đó thành nền tảng tinh thần của chúng ta, chúng ta có thể đắc đạo, đắc thiền hay không lệ thuộc vào chúng ta đầu thai bằng tâm gì. ↑ Hỏi: Dựa vào cơ sở nào khi nói Tâm có cấu tố đầu tiên của vũ trụ? Đáp: Ít ra khi đưa ra câu hỏi phải nói theo sách nào, ông A, bà B chứ tự nhiên mình đưa cái câu bắt người ta trả lời, cũng hơi kỳ. Tự nhiên không biết lụm ở đâu. Nhưng thế này. Vũ trụ là gì? Gồm 2 thành tố cấu tạo: Tinh thần & Vật chất. Cái gọi tinh thần chỉ có chúng sinh. Cái gọi là vật chất có trong và ngoài chúng sinh. Nói gọn lại thì tinh thần và vật chất là 2 thành tố chính cấu tạo nên vũ trụ trong đó có những thứ chúng sinh và ngoài chúng sinh; Thì như vậy, bản thân cái tâm đã là một nửa vũ trụ rồi. Nhưng nó chỉ liên hệ đến phần thuộc về chúng sinh thôi – một cách trực tiếp; Còn có trường hợp có những thứ ngoài chúng sinh nhưng vẫn bị tác động gián tiếp bởi tâm là trường hợp do tâm thức của chúng sinh mà tạo các nghiệp. Từ các nghiệp thiện, ác tác động đến môi trường thiên nhiên, một cách gián tiếp. Thí dụ, kinh nói thời kỳ chúng sinh nhiều công đức, phước báu nhiều thì môi trường thiên nhiên, nắng mưa cây cỏ, điều kiện sinh hoạt tốt hơn. Thời kỳ chúng sanh vô phúc mưa không thuận, gió không hòa, cây cỏ, thảo mộc, côn trùng, độc thú rối hơn thời chúng sanh hưởng phúc. Chẳng hạn, thời Phật Di Lặc ra đời trái đất này nó như cõi trời, không có thời tiết bất chừng, nóng lạnh khắc nghiệt, cực đoan như mình bây giờ. Như vậy mình thấy Tâm thức là một phần thành tố cấu tạo nên vũ trụ là như vậy. ↑ Hỏi: Sự khác biệt giữa tưởng tri, thức tri, tuệ tri, thắng tri, liễu tri, biến tri là gì? Đáp: • Ba cái chữ “thắng tri, biến trí, liễu tri” này trong Chú giải Tam Tạng nói nó tùy chỗ mà có nghĩa khác nhau, không phải chỗ nào cũng có nghĩa giống nhau. Có chỗ nó là chứng thánh, có chỗ nó là trí tuệ quán phàm phu. Có lúc là thánh trí, có lúc là phàm trí. • Tất cả tri tri gom lại có 3: Biết của Thức, Biết của Tưởng, Biết của Trí. ◦ Biết của Thức = Thông qua giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi. Biết trực quan thông qua giác quan: Thấy, nghe, ngửi, nếm.. ◦ Biết của Tưởng = Thông qua kí ức, hồi ức, kinh nghiệm, suy diễn, liên tưởng, hình dung, tri thức, học thức. Biết mọi sự qua lối mòn. ◦ Biết của Trí = Tuệ Tri = Cái biết bằng Trí tuệ, biết A, là B, là trắng, đen, là nhân, là quả, thiện, ác, nên, không nên, lợi mình, lợi người, hại mình, hại người ... biết phân biệt, chọn lọc, đào xới, cân nhắc, suy tư. Quan trọng nhất là biết đứng ra ngoài lối mòn để nhìn lại mọi sự là Tuệ tri. Đứng trong lối mòn là Tưởng tri. Thức tri chỉ đơn giản là biết quan giác quan thôi, biết bằng cách chụp hình thôi. Theo A Tỳ Đàm nói- nói là tôi đang ngắm hoa thật ra là con mắt mình chỉ chụp hình nó không biết là cái gì, chuyện mình biết là hoa hồng, hoa cúc nằm ở Tưởng tri, Tuệ tri không mấy khi có. Mình biết cái hoa được tạo điều kiện gì, đất đai thời tiết ra sao và nó do các duyên mà có, có rồi cũng phải mất đi. Cái biết thứ 3 này là tuệ tri. Nhìn cái hoa họ biết chỉ là đất nước lửa gió, họ chỉ chú ý các duyên tạo ra nó. cái biết này mới dẫn đến chuyện chấm dứt phiền não, chứng ngộ Thánh trí, đoạn trừ sanh tử. Đa phần chúng ta sống bằng Tưởng Tri và Thức tri. ↑ Hỏi: Xin Sư giải thích và phân biệt 3 ý niệm mô tả thế giới: Parikappita, Paratantra và Paṭiccasamuppāda. Đáp: Tôi không biết họ đọc sách gì, tôi đang giải thích bằng cái biết của tôi thông qua kiến thức A Tỳ Đàm. Tôi trả lời qua kiến thức tiếng Phạn và kiến thức giáo lý A Tỳ Đàm. 2 chữ Parikappita, Parikapa là Thế trí biện thông, hay Biến kế sở chấp, hay cái biết Đệ nhất, đệ nhị Tất đàn là cái biết dựa trên hình thức Tục đế, Chế định, nước chỉ là nước, bột chỉ là bột, đường chỉ là đường nhưng mình vò nó lại làm bún, tàu hũ, hủ tiếu, ... Rồi cũng chừng đó kim loại mình làm ra đồng hồ, dây xích, búa kiềm,... những cái đó gọi là Parikappita. Còn 2 cái sau giống nhau. Tôi nói theo tôi nha. Paratantra và Paticcasammuppada = Mọi thứ xuất hiện, tồn tại trong mô thức Duyên khởi. Duyên khởi là sao? Mọi thứ có mặt trong mặc định hoặc tính ước lệ tương đối, Do các duyên khởi mà cái này có cái kia có. Thí dụ, Tâm tham trong cảnh sắc cảnh thinh mới tạo tâm đầu thai về cõi Dục. Về cõi dục mình mới có nhà cửa, nam nữ, ăn uống, các ngành khoa học, khảo cổ, kiến trúc, hội họa, hình học, lượng giác, ... Do cái nghiệp. Nếu không có tâm tham trong các trần vật chất thì mình không đầu thai về cõi Dục. Mà không về cõi Dục thì không có mấy cái vụ liên hệ với cõi Dục. gười tu thiền về Phạm thiên, trên đó không có mấy khái niệm này. Trên đó Sơ thiền, Nhị thiền.. chỉ có cảnh đề mục: Đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, hư không, ánh sáng chứ không có vụ rối như canh hẹ mình thấy ở cõi Dục. Paratanra - Tương quan. Paṭiccasamuppada - Tương sinh. Hai cái này trong chỗ tôi biết có trường hợp nó đồng nghĩa với nhau, có nghĩa là: Mọi thứ tồn tại ở mức tương quan, một cách rất mặc định, do cái này tạo ra cái kia. Gọi là chồng vì có đứa làm vợ, gọi là chồng vì có đứa là vợ. Người con gái có con gọi là mẹ. Có người là bố nhưng chưa là chồng ai hết, chỉ làm người ta có bầu chứ không có đám cưới. Có anh chỉ có hôn thú làm chồng không có con nên không được gọi là bố. Cũng miếng gỗ đó hồi nãy mình gọi tấm gỗ, dũa dũa mài mài, khoét khoét, mình gọi là mặt bàn, mặt ghế. ↑ Hỏi: Có nơi giảng Tam pháp ấn là Vô thường, Vô ngã và Khổ. Nơi khác thì giảng Tam pháp ấn là Vô thường, Vô ngã và Niết bàn. Pháp nào mới là Pháp đích thực của Đức Phật? Đáp: Cái này nói ra dễ sốc. Nó lớn chuyện lắm. Người đặt câu hỏi này tôi e nằm 2 trường hợp: Mù tịt giáo lý, không biết gì, đọc thấy lạ lạ rồi hỏi. Trường hợp 2 muốn mượn tay tôi gây thù thiên hạ. Hai trường hợp này không xài được. Chỉ có trường hợp thứ 3 - muốn tìm hiểu Phật pháp. Chữ “Pháp ấn” là sau này dựa theo kinh Hán tạng gọi. Pali gọi là Tilakkhana = Ba hiện tượng. Mấy vị mê tự điển dịch là “Tướng” nhưng tôi dịch là Hiện tượng. Có nghĩa là - Các pháp do duyên mà có. Mỗi thứ thì “Nhậm trì tự tánh, quỹ sanh vật giải” là nói theo Tàu, tức là Mọi thứ trong đời tự nó có bản chất riêng. A Tỳ Đàm gọi là Attano lakkhanaṁ ṭhāretīti = Mỗi pháp tự nó có tánh riêng. Tàu thì họ kêu là “Nhậm trì tự tánh, quỹ sanh vật giải”. Mọi thứ do duyên có. Có rồi mất đi. Chỉ đơn giản vậy thôi. Để khai thị cho chúng sanh thấy, để nhàm chán thì đức Phật mới phương tiện, cho biết rằng, Mọi thứ do vô số Duyên mà có, cũng do vô số duyên mà mất đi. Không có ai là sáng tạo chủ, không có đấng sáng tạo muôn loài, không có đấng nào tạo ra mà bản thân cái gọi là chúng sanh, con người cũng là do các duyên, giả hợp, không có cá thể nào. Ngay ý nghĩa “không có cá thể, Không có cái tôi đơn thuần bất biến” = Duyên sinh, cũng là ý nghĩa Vô Ngã. Do vô số duyên mà có, cũng do vô số duyên mà biến mất. Mọi thứ luôn trong tình trạng trở thành cái mới - Bhava / becoming = Vô ngã; Cũng chính luôn thành cái mới nên cái sau thay thế, phủ định cái trước = Vô Thường. Như vậy là 2 hiện tượng pháp giới hữu tình. Khổ, A Tỳ Đàm giải thích rất rộng, không phải như đa phần Phật tử hiểu Khổ là khổ thân, khổ tâm là chết rồi. Khổ - có 3 trường hợp: • Khổ thân, khổ thân là Khổ khổ = Sự có mặt cái gì làm mình khó chịu. • Hoại khổ = Sự biến mất cái gì làm mình dễ chịu. • Hành khổ = Bản chất lệ thuộc các duyên. Bản thân lệ thuộc các duyên mà có là khổ. Thí dụ, bà con thấy mình bị đói, lạnh, thương tích, bệnh tật, nợ nần là khổ. Nhưng các vị thấy người con gái đi làm dâu nhà giàu, lấy mắt mình nhìn thì sướng thiệt. Nhưng trong một ngày 24 giờ, tuần 7 ngày,trong tháng 30 ngày, một năm 12 tháng nụ cười cô ấy có được bao nhiêu phần trăm thời gian? Thấy cô được cưng chiều, cho ăn sang, shopping... mình thấy sướng. Nhưng mấy cái đó chắc chắn có ngày mất đi khi cô ấy già, bệnh, khi gia đình chồng không còn tài sản nữa. Cái này mới quan trọng: Tất cả sự sung sướng của cô ấy lệ thuộc quá nhiều điều kiện. Là sao? Chỉ cần bà mẹ chồng một ngày không thích con dâu này nữa, bả thích con dâu khác; hoặc Người chồng lúc nào đó ngoại tình hoặc phát hiện bà vợ có gì ổng không thương nữa. Nói chung sung sướng của cô dâu này lệ thuộc quá nhiều điều kiện; Giọt lệ, nụ cười của cổ không nằm trong tay cổ mà trong tay bao nhiêu người trong nhà chồng. Bản thân sự lệ thuộc này cũng khổ. Người không biết đạo chờ cổ bị đánh bầm mặt, phù mỏ, bị máu, bị lế mới gọi là khổ. Nhưng đức Phật nói không cần, chuyện nó bị chồng đánh là khổ thô. Khổ tế là chuyện nó có mặt nhà kẻ lạ, làm dâu xứ lạ, làm dâu nhà người đã khổ rồi. Vì sao? Nụ cười, giây phút ăn ngon mặc đẹp của nó rất mong manh, sự sung sướng của nó lệ thuộc vô số điều kiện. Nhiều lắm: Bản thân mình bị bệnh, bị tâm thần, chồng mình nghiện ngập, chơi bạn xấu, bị pháp luật, mẹ chồng đổi tánh đổi nết, bao nhiêu lời ong tiếng ve nhà chồng,.... khổ lắm. Người biết đạo thấy rằng không cần cô dâu khóc chỉ thấy đi làm dâu nhà người ta là khổ rồi. Đức Phật nói xa hơn, không cần đi làm dâu - Có mặt ở đời là khổ rồi. Khổ thứ 3 này gọi là Hành khổ. Đây gọi là Tam Pháp ấn. Có trường hợp kể 4: Vô thường, Khổ, Vô Ngã, Không. Không là triển khai từ 3 cái trước. Cái gì luôn sanh diệt, đổi khác là Vô thường, cái gì Vô thường là khổ, cái gì khổ là Vô ngã. Cái gì vô ngã là không = Nobody. Không ai, không kẻ nào cả. Chữ “không” trong đạo Phật không phải là nothing mà là Nobody. Nó không phải là không có gì mà không ai, không kẻ nào cả. Còn nói Tam pháp ấn kể Niết Bàn thì tôi không bàn tới. Bởi vì đó là một sự đụng chạm rất lớn. ↑ Hỏi: Tu tập Tứ Niệm Xứ cũng chính là tu tập Thất Giác Chi. Tại sao trong bài kinh Vô Minh, Đức Phật lại nhắc đến Tứ Niệm Xứ như là điều kiện để phát triển Thất Giác Chi? Đáp: Nếu người học A Tỳ Đàm biết rằng cái gọi là Tứ Niệm Xứ, nội dung nó chính là Thất Giác chi. không học A Tỳ Đàm nghe cái này không hiểu. Câu đó phải hiểu thế này; Tu tập tứ niệm xứ cũng chính là tu tập Thất giác chi. Tu tập Thất giác chi = Tu tập Bát Chánh Đạo = Tu tập Tam Học: Giới, Định, Tuệ = Tu tập Ngũ căn, Ngũ lực, Tứ như ý túc. Không bao giờ tu tập Tứ niệm xứ thiếu thành tố tâm lý của người tu tập Thất giác chi. Đời sống tâm lý chúng sinh có 2: Thiện & Ác. Cái thiện công thức là: Thiện 1 (tâm/ tánh biết) + 13 (tâm sở trung tính – những thành tố tâm lý hoàn tất cái biết) + 25 (tâm sở tích cực: Từ bi, trí tuệ, chánh niệm, thiền định,...). Bất cứ thiện pháp nào cũng bằng công thức này. Tu Tứ Niệm Xứ, Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo... cũng là vậy Cái ác = 1 + 13+ 14 tâm sở tiêu cực. Chỗ này bắt buộc giáo lý. Tu Thất giác chi, tu Bát Chánh Đạo,... đều là 1+13+25. Còn mình ôm bản dịch sẽ thấy nó khác nhau. ↑ Hỏi: Chánh niệm tỉnh giác (satisampajaññā) khi làm điều kiện cho Thu thúc lục căn trong bài kinh Vô Minh và Chánh niệm tỉnh giác mà Đức Phật nhắc đến trong kinh Tứ Niệm Xứ giống và khác nhau như thế nào? Đáp: Chữ "Chánh niệm" ở mọi hoàn cảnh giống nhau. Riêng “Tỉnh giác” là khác. Tỉnh giác có 2 nghĩa. • Nghĩa một – chữ Tỉnh giác vẫn là Chánh niệm nhưng là chánh niệm trong tiểu oai nghi. Thí dụ, bước tới bước lui, mấy tư thế sinh hoạt nho nhỏ, nhìn tới ngó lui, đắp y, mang bát, ăn uống, tắm rửa, tiểu tiện... Tỉnh thức trong tiểu oai nghi gọi là Sampajañña – Tỉnh giác; Đại oai nghi là Đi, đứng, nằm, ngồi. • Nghĩa 2 - sampajañña là trí tuệ lúc tu tập tuệ quán, nói hẹp là biết đây là Danh, sắc, biết đây là thiện, ác, biết cái này nên không nên. Đó là nói vắn tắt. Nói đủ là có 4: 1. Biết chuyện mình sắp làm có lợi hay hại? satthaka-sampajañña 2. Biết có lợi mới làm mà mình lựa cách nào để đừng mất thời gian, không ảnh hưởng chuyện tu tập của mình? Sappāya-sampajañña 3. Biết rõ sinh hoạt của mình có cái nào ngoài chuyện tu học không – thí dụ đang trong khóa thiền mà có người rủ cúng dường trai tăng, chiêm bái xá lợi, đảnh lễ các ngài Tam Tạng... thì xét coi có nên không, vì khi đi là mình buông đề mục, thí dụ vậy, đang tu hơi thở, thể trược, niệm chết, niệm Phật gì đó? Gocara-sampajañña (gocara = mục trường. Tâm mình như con bò, mình đi xa quá rời khỏi mục trường là không được). Nói đi làm phước chứ đi về tu không nổi, chánh niệm mất hết. 4. Biết rõ chỉ có thiện, bất thiện, chỉ có chánh niệm & phóng tâm, Tu & không tu, Không có người tu, Chỉ có sự tu tập. Mọi thứ là Vô Ngã, ở đây chỉ có Danh sắc, Năm uẩn. Asammoha – sampajañña Đây là 4 trường hợp của Tỉnh giác = Trí tuệ. Đừng thấy chánh niệm, tỉnh giác tưởng một nghĩa là không được. ↑ Hỏi: Trong Kinh Trường bộ thì có 3 cách hành thiền Vipassanā (định trước tuệ sau, định tuệ song tu, duy nhất tuệ quán). Ở thời đại hiện nay, trong thiền Vipassanā, hành giả chỉ thực hành tuệ quán thì có đi đến đạo quả thoát khỏi luân hồi không? Ở thời đại Đức Phật không còn, thì nên hành thiền Vipassanā theo cách nào là phù hợp. Đáp: Có 4 trường hợp tu tập Tuệ Quán không phải 3: • Chỉ trước Quán sau • Quán trước Chỉ sau • Chỉ - Quán cùng lúc • Tu thiền Quán mà thôi. (Kinh Tăng chi bộ kinh, phần 4 pháp) Tiếp theo - Hỏi thời này cái nào thích hợp? Cả 4 đều thích hợp nhưng mỗi người một khác. Đối với A có thể Chỉ trước Quán sau; Với B có thể Quán trước Chỉ sau; với C thì Chỉ- Quán cùng lúc. Với D thì tu riêng thiền Quán mà thôi. Vì sao vậy? Vì chỗ này mình cần đến thiền sư. Thí dụ Pa Auk thì Chỉ Quán song tu, Mogok, Theingu... thì tu tập Thiền Quán không nặng thiền Chỉ. Quán gốc = căn cứ kinh Tứ Niệm Xứ mà tu, như bên ngài Mogok, Sunlun, Theingu... Quán ngọn = Quán phương tiện, các dòng như U Pandita, Mahasi,... ví dụ ngài Mahasi thấy ngài hợp với phồng xẹp thì ngài phát triển cái đó. Tất cả phương hướng, giải pháp đều mang tính tương đối. Khi mình cắm đầu thờ phụng đường hướng nào là tự mình đóng khung, nhốt chuồng, nhốt cũi, lòng chậu. Tất cả đạo sư, trừ đức Phật, đều là tham khảo. Người tỉnh táo có khả năng nhận thức trung bình phải luôn luôn nhớ: Cái gì cũng chỉ là giải pháp tạm thời, trong thời điểm nào đó. Không thể theo vì đám đông theo. Cái gì đúng thì dầu không ai theo vẫn đúng, cái gì sai một tỷ người theo vẫn sai. Tôi không nói chánh tà đúng sai. Cả 4 phương thức tu tập Thiền Quán đều có thể ứng dụng thời này. Có người hợp cái này có người hợp cái kia. ↑ Hỏi: Trong quá trình tu học và hành đạo, Sư có từng tận mắt chứng kiến hoặc tiếp xúc với ai bị cho là dính đến bùa ngải – dù là bị hại hay sử dụng nó? Nếu có, xin Sư từ bi chia sẻ cho con và mọi người được biết trải nghiệm đó, và Sư đã nhìn nhận – hóa giải – hoặc khuyên họ ra sao, dưới ánh sáng của Phật pháp? Đáp: Trong kinh Bổn sanh, đức Phật xác định bùa chú có thật. Tăng chi, phần 3 pháp Ngài xác định nó có thật nhưng không phải là con đường giải thoát. Chuyện đầu tiên phải xác định nó có. Hỏi tôi chứng kiến không thì Tôi chưa từng thấy ai bị gì đó mà tôi xác định là bùa, vì tôi không phải thầy bùa tôi không biết. Bùa quả tôi không thấy, mà Bùa nhân có. Bùa quả là bị ai đó trù, yếm thì tôi chưa thấy, nhưng tôi thấy những người mê mấy cái đó không bình thường. Nói theo ngoài đời, mình phải làm sao xây dựng một gia đình hạnh phúc, có kiến thức đủ phục vụ xã hội, đất nước, dân tộc để phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị. Mình làm gì có thời gian theo đuổi ba cái vụ đó thì không nên. Lý do gì mình phải mất thời gian cho cái đó? Nói theo trong đạo thì: Học giáo lý & sống tỉnh thức là cái tốt nhất. Biết Phật mà vẫn theo đuổi cái mơ hồ, mông lung của bùa chú thì không nên. Đạo Phật là đạo Thông tuệ, tỉnh táo, minh bạch. Như vậy là mình là người biết đạo thì có 2 việc để làm: Học giáo lý & sống chánh niệm. Như vậy mình không có thời gian đụng tới bùa chú. Nếu mình là người ngoài đời phải xây dựng gia đình, có khả năng đóng góp cho xã hội, đất nước, cho nhân loại, hành tinh,...là chuyện đáng làm. Hỏi tôi thấy bùa không thì tôi nói rồi. Bùa quả tôi chưa thấy, thấy bùa nhân. Người chìm sâu trong mấy cái mơ màng, khuất lấp đó có ảnh hưởng lớn. Kẻ bị dính bùa tôi chưa thấy nhưng người mê xác cô, vía cậu, bùa phép, trấn yếm... họ kỳ lắm. ↑ Hỏi: Vị La Hán không còn tạo nghiệp thiện ác nữa, vậy khi ngài Xá Lợi Phất cúng dường cho Tăng rồi tại sao có thể hồi hướng cho ngạ quỷ là mẹ trong tiền kiếp của Ngài. Nếu nói ngạ quỷ được phước do tùy hỷ, thì hoàn toàn có cơ hội thoát kiếp ngạ quỷ do thời đức Phật không thiếu người làm phước. Đáp: Ở đây vấn đề không phải ai làm phước, vấn đề không phải người đó là thánh hay phàm, người đó là quen hay lạ. Không quan trọng. Mà quan trọng là mình trong cảnh giới sa đọa, mình vui theo một công đức, thiện pháp của người khác, đặc biệt mình biết công đức đó nhắm tới mình, hướng tới mình, dành cho mình. Mình vui ké đã ngon lành, mà mình biết thiện pháp đó được làm cho mình, với hoan hỷ này tự thân là công đức. Mình thoát nhờ cái này không phải nhờ ai đó tụng niệm, cũng không phải do thí chủ ra sức hồi hướng là A La Hán hay phàm phu. Cái đó không quan trọng. Quan trọng là mình thấy mình vui – ngay chỗ đó, mình thoát kiếp ngạ quỷ là do mình vui theo cái lành của người khác. Kẻ nào lúc còn sống tánh nhiều ghen tị, tỵ hiềm, ghen ghét người khác chuyện nhận phước hồi hướng rất khó. Vì khi còn sống thấy người ta hưởng quả lành tạo nhân lành là mình không vui, thấy người ta sướng, đẹp, giàu mình không vui, thấy ai tu tinh tấn mình thấy ghét. Không vui với nhân lành, quả lành người khác thì chết rồi nhận phước hồi hướng rất khó. Ai làm cũng được, miễn là kẻ bị đọa họ vui là được. Đừng đòi hỏi người kia là ai. Giống như mình bị đói, người ta cho cơm thì mình chỉ quan trọng bàn tay đó, chén đó là đưa cho mình không phải trên bàn, xác định vậy là ăn. Đừng quan trọng ai cho mình, biết mình bị đói, có bàn tay đưa cho mình cái chén mà còn đòi hỏi ông đó phải nam mạng thổ, sanh dưới chân Huỳnh Đế, trên 30 tuổi, gia thế, học vấn, quan hệ xã hội,... thì mệt lắm. Mình đói là chỉ nhắm chén cơm thôi, đừng bàn người kia mệt lắm. Một ông tiến sĩ hay người không biết chữ thì ai cũng được, miễn là có chén cơm là mình đớp thôi. ↑ Hỏi: Trong buổi vấn đáp ở Chùa Định Huệ, Sư có nói rằng có loài phi nhân ăn mùi của thức ăn, gây ôi thiu. Việc này giải thích theo pháp thực tính như thế nào? Đáp: Phải hỏi thế này: tôi nghe như vậy, chuyện đó ra sao? Trong Chú giải nói, có những chúng sinh không nhận được thực phẩm của người khác, đói suốt cuộc đời. Nhưng có những loài chúng sinh sống bằng cách ăn mới sống được. Chúng sinh đói khát không chết vì nghiệp bắt sống để chịu khổ. Có chúng sinh phải ăn vật thực do người khác vứt bỏ. Chú giải nói có những loại đói suốt cuộc đời trăm phần trăm, có loại thỉnh thoảng được no, toàn bằng đồ dơ, nó ăn phân, đàm, dãi, máu, mủ, rác, rưởi,... Bằng chứng là thời đức Phật có vị thánh trước khi được sanh làm người gặp Phật chứng đạo, lúc còn là Phàm, do nghiệp xưa cả đời đói, chỉ có lần no là ăn bào thai người ta bỏ, bào thai của gười mẹ chết, lúc người ta thiêu người ta moi ra, con ngạ quỷ ăn được bào thai nó no được lần đó. Có ngạ quỷ ăn toàn đồ dơ. Khá hơn là có loài ngạ quỷ ăn được đồ cúng. Mà có mấy thuở người ta cúng cho mình? Lâu lâu con cháu làm cho bữa rồi thôi. Sống bằng mùi là sao? Trong Chú giải bổn sanh nói, chữ Càn Thác Bà/ Gandha (mùi) gồm nhiều hạng: Trên Đao lợi đờn ca hát xướng là Càn Thác Bà cao cấp. Càn Thác Bà thấp cấp là sống nương tựa cây cối, gandha là mùi mà, sống trong trái cây, trái này rụng qua trái khác, có loài sống trong cành, nhánh, củ, rễ, thân cây. Nó sống bằng mùi của cây, mùi lá, mùi trái, mùi hoa. Kinh nói - Có trường hợp khúc cây đốn về làm giường, chõng, bàn, cột nhà,... nó đi theo. Cây của người ta mà. Người ta luyến cái cây quá. Khi cái cây bị đem về sử dụng nó đi theo. Nó hiền nó ở đó, nếu nó nghịch, ác là cho thấy tạo hiện tượng mộc đè trên cổ trên ngực. Mình nằm thấy có thằng đen thui, lông lá đè trên cổ trên ngực. Nhưng không hẳn bị đè là Càn Thác Bà. Có trường hợp đó. Nó hưởng mùi hương, mùi hoa. Cúng vậy nó chỉ thưởng thức cái mùi thôi, bằng chứng là thức ăn còn nguyên. Còn thức ăn thiu là tôi kể chuyện tôi nghi, chứ kinh thì không có, tôi kể cho rộng đường suy luận thôi. Có chùa ở quận 6, trái cây cúng bàn vong là nó hư đúng 50% thôi. Khi tôi ở miền Tây, 93, 94 gì đó người quen cho tôi biết, cả xóm sinh hoạt bình thường, không có gì bậy bạ, cái gì cũng giống nhau, ông này không có gì đặc biệt, riêng nhà ổng nấu cơm là ăn cho hết, vừa vặn bữa ăn, vét nồi luôn, dư 1 chén là chết với nó. Họ nói nó bóp như cơm mẻ, cơm chua chua đó, nó lầy mà thọc ngón tay kéo lên có chỉ lê thê. Chỉ có 2, 3 tiếng. Tôi kể mấy chuyện đó là cũng có thể. Tôi nghĩ là có thể. Nó ăn không được, nó chỉ thưởng thức cái mùi thôi. Chuyện không có gì lạ. Bởi vì suốt đời không ăn cũng có, ăn mùi cũng có, ăn vị cũng có, ăn đồ dơ cũng có, ăn đồ cúng cũng có. Chuyện rất bình thường. ↑ Hỏi: Về việc học Pāli có phải các học giả phương Tây đóng vai trò rất lớn không? Như những cuốn sách học Pāli của Hội Pāli Text Society… Con cảm nhận nhờ những cuốn sách được viết bằng tiếng Anh giúp con tiếp cận được với Pāli một cách có logic và hệ thống. Con xin được biết góc nhìn của Sư. Đáp: Một trong những. Các học giả Âu Mỹ chỉ là một trong những. Vì chúng ta có học giả người Nhật, người Trung Quốc Đại lục, Trung Quốc Hồng Kong, Trung Quốc Đài Loan, bên Đài Loan có các ngài Thánh Nghiêm, Ấn Thuận, bên Trung Quốc kia có quá nhiều: chẳng hạn Tô Mạn Thù, Trung Quốc Hong kong thì có ngài Pháp Nhiên... tôi chỉ kể một vài. Nhật Bản đông một tỷ. Học giả tiếng Phạn đông lắm. Vì mình không đọc được tiếng Tàu, tiếng Nhật. Ngay cả ngôn ngữ Âu Mỹ mình chỉ đọc được Anh, Pháp, chứ còn Đức, Nga, Hà Lan, Hungary - giờ có thêm Đan Mạch, thì có nhiều học giả nghiên cứu tiếng Pali Hôm nay bà con nào học Pali có tài liệu giáo khoa nên tìm trên mạng bộ sách - Digital Pali Reader dành cho người từ elementary đến advanced của Đan Mạch. Tài liệu quý lắm, họ làm hay lắm. Họ lấy từng đoạn kinh dễ đọc phân tích văn phạm, từ mới, cuối cùng cho mình bản dịch, rất dễ học. Nói gì thì nói, Âu Mỹ chỉ là một trong những thôi, mình có nhiều học giả các châu lục khác./. Mục lục
1. Pháp đàm 04/09/2022
| 2. Pháp đàm 18/09/2022 3. Pháp đàm 25/09/2022 4. Pháp đàm 02/10/2022 5. Pháp đàm 09/10/2022 6. Pháp đàm 16/10/2022 7. Pháp đàm 23/10/2022 8. Pháp đàm 30/10/2022
9. Pháp đàm 27/11/2022
| 10. Pháp đàm 04/12/2022 11. Vấn đáp – 06/07/2025 12. Vấn đáp – 13/07/2025 13. Vấn đáp – 20/07/2025 14. Vấn đáp – 17/08/2025 15. Vấn đáp – 05/10/2022 | |