← Trang Vấn Đáp

Sư Giác Nguyên →



Mục lục :: Ghi chép
Vấn đáp – 05/10/2022
BTC xin tri ân cô Diệu Hỷ ghi chép
  1. Phật đầu tiên do ai thọ ký?
  2. Mất tín tâm vào một số vị giảng sư
  3. Hoạt động nghệ thuật
  4. Kinh nghiệm đọc sách
  5. A Hàm và Nikāya
  6. Nghiệp thiện được trổ quả
  7. Những ai sanh cùng ngày với Bồ Tát Siddhartha?
  8. Hành giả sơ cơ nên học như thế nào?
  9. Bậc Chánh Đẳng Giác không để lại giáo pháp
  10. Giải thích từ "Dhammānudhamma"
  11. Tuỳ hỷ
  12. Asankhyeya Mahākappa
  13. Chánh Niệm trong chốn ồn ào
  14. Thọ, Tưởng, Thức
  15. Biết đâu là Chánh Pháp

Hỏi:
Bậc Chánh Đẳng Giác được Đức Phật quá khứ thọ ký trở thành Phật, vậy thì vị Phật đầu tiên do ai thọ ký?
Đáp:
Câu này để trả lời phải học giáo lý cả đời, nếu trả lời cho tới nơi. Trong thời lượng này chúng tôi trả lời hên xui, bà con nào nghe được thì nghe, không nghe được thì thôi. Không có giáo lý nghe cái này hơi mệt.
Trong cái gọi là Tà kiến gồm Thường kiến & Đoạn kiến = Chấp hữu, Chấp vô; Được đức Phật nói rộng là 62 tà kiến, trong đó có một tà kiến cho rằng thời gian có điểm bắt đầu, không gian có giới hạn. Đó là một thứ tà kiến. Vì sao? Vì khi mình hiểu trong vòng tròn của giáo lý duyên khởi là Tiền tiền vô thủy, hậu hậu vô chung.
Kinh Đại Duyên - Trường Bộ Kinh, Đức Phật có dạy rất rõ: Không nên nói tới điểm bắt đầu của dòng sanh tử vì đó là chuyện nói ra chúng sanh không hiểu. Chư Phật không nói con gà có trước hay cái trứng có trước con gà, chư Phật chỉ cho mình biết: Muốn có trứng phải có con gà, muốn có con gà phải có cái trứng. Chỉ khoanh vùng bấy nhiêu đó thôi.
Theo A Tỳ đàm khái niệm trước – sau, trong – ngoài, trên – dưới, xa – gần, đầu – đuôi là giả niệm, vọng niệm.
Mình chỉ cần biết không nên quan tâm chuyện con gà có trước hay cái trứng có trước, chỉ cần biết muốn có gà cần có trứng, muốn có trứng cần có con gà. Đức Phật chỉ cho biết: Vì đâu mình có mặt ở đây, muốn không có mặt nữa thì phải làm gì.
Vị Phật đầu tiên không bao giờ nên nói tới vì hễ có vị Phật đầu tiên là có điểm bắt đầu của sự hiện hữu trong vô lượng vũ trụ, đó là một thứ tà kiến. Nó giống như bên vật lý không học không hiểu chiều không gian thứ 4, thứ 5. Không học vật lý, chỉ lớp 2, lớp 3 kêu người ta giải thích cho hiểu big bang là impossible mission – nhiệm vụ bất khả thi.
Khi bận tâm điểm đầu, điểm cuối của thời gian, giới hạn của không gian là một thứ tà kiến. Mình chỉ cần biết đại khái: Sự hiện hữu của chúng sanh là cộng hưởng của tâm, vật với sự tác động của vô số duyên. Hễ còn có duyên nó còn xuất hiện; dủ duyên nó kết thúc, còn duyên thì còn tái hiện trong hình thức khác. Mình chỉ biết tới đó thôi. Bàn tới điểm bắt đầu là một tà kiến. Vì sao thì phải học giáo lý.
Bài kinh mới vừa rồi mình học đó: Ngày nào còn già bệnh chết còn chư Phật, ở đâu lúc nào còn già- bệnh - chết nơi đó còn có thể có chư Phật xuất hiện. Chư Phật sơ kỳ không khác mình một gram nào hết, nhưng do thân cận minh sư thiện hữu, các vị sơ phát bồ đề tâm, có Đại Bi, Đại Trí, Đại Dũng; Đại Trí = Hiểu mọi thứ là giả; Đại Bi = Thương những đứa không hiểu đó là giả; Đại Trí + Đại Bi = Đại Dũng = Không sợ gian nan, kiên trì Phật đạo, Phật hạnh suốt một thời gian dài, cuối cùng thành Chánh Đẳng Giác, Vô thượng Bồ Đề. Mình chỉ biết Phật là vậy thôi. Mình chỉ cần biết: Vị Phật nào cũng phải trải qua thời gian tu hành (cực kỳ) lũy thừa 1 tỷ- gian khó. Khó lắm mới thành Phật; Đại Trí, Đại Bi, Đại Dũng hình thành nên nhân cách vị Bồ Tát, khi công viên quả mãn vị đó trở thành một đức Phật.


Hỏi:
Một số vị sư giảng pháp rất hay và sâu sắc, nhưng sau khi con xuất gia và sinh hoạt chung, con không còn tín tâm vào một số vị, đồng thời con bỗng thấy mất niềm tin nơi chính sự tu tập của con, nhưng con vẫn có niềm tin vào Giáo Pháp và sự giác ngộ của Đức Phật. Con nên chấn chỉnh suy nghĩ của con như thế nào?
Đáp:
Không nên chấn chỉnh. Cứ giữ nguyên như vậy mà đi tới.
56 tuổi tôi bị sỏi thận, tiểu đường, cholesterol, bao tử thường xuyên bị viêm loét,... tôi phải dùng thuốc. Buổi đầu là thuốc tây, sau đó điều chỉnh chế độ ăn uống, sau đó coi nặng thuốc nam. Ăn thuốc trước khi phải uống thuốc. Trong số những người làm thầy làm bà, góp ý cũng có, đề nghị cũng có, khuyên nhắc chúng tôi nên ăn cái này, nên uống cái này, nên kiêng cái này, nên cữ cái nọ, mà chính họ không kiêng, chuyện đó với tôi tuyệt đối không vấn đề vì tôi thấy lời khuyên đó ok thì tôi nghe. Bản thân họ có tắm bằng rượu, giải khát bằng rượu, ăn 1 tấn hải sản, thịt mỡ, 1 tấn đường, 1 tấn thực phẩm chế biến, với tôi việc đó tuyệt đối không là vấn đề. Những gì họ góp ý cho tôi về thực dưỡng, phòng bệnh chữa bệnh mà ổn thì tôi theo. Tôi theo chân lý không theo người rao giảng chân lý.
Chuyện thứ hai, Tam Bảo mình hiểu thông thường nên điều chỉnh lại.
• Phật Bảo – đức Phật nói riêng, chư phật nói chung.
• Pháp Bảo – Lời dạy chư Phật , Con đường chư Phật đi, những gì chư Phật thuyết giảng.
• Tăng Bảo – là những cá nhân có tóc và không tóc, chư thiên nhân loại hành trì đúng mức lời dạy chư Phật trở thành Thánh nhân. Ngoài đối tượng đó ra thì tùy duyên. Hợp vị nào thì nghe vị đó. Theo = họ là địa chỉ để mình tham khảo; vị nào có cái đáng nhìn thì nhìn, có cái đáng nghe thì nghe. Sai lầm của mình là mình đòi hỏi bà bán bánh mì phải là hoa hậu mới ăn, người bán thuốc phải 6 múi 3 vòng, có tỷ lệ vàng các chi cơ thể mình mới mua thuốc thì theo tôi là không cần thiết. Người dược sĩ bị ung thư kỳ cuối hoặc bà bán bánh mì hay ông tài xế tắc xi có đời tư ra sao không là vấn đề, tôi cần bánh mì thì tôi mua bánh mì, cần tắc xi đi tắc xi một đoạn đường. Tôi chưa bao giờ đi điều tra tìm hiểu đời tư bất cứ bà cô, ông cậu, bà bán bánh mì nào hết.
Tăng ni, Phật tử, kể cả kinh sách, mình thấy điểm nào chấp nhận được mình chấp nhận, ngoài ra phải mắt nhắm mắt mở, chứ đòi hỏi cuốn sách phải bìa cứng mạ vàng, in bằng giấy thánh kinh, giấy Thụy Điển, giấy Hy Lạp,... Sách thì tôi đọc thôi. Coi mục lục rồi dò đọc thôi. Chứ ngoài ra tác giả nổi tiếng hay không nổi tiếng, in giấy gì, bìa cứng bìa mềm,... ở đây ai đọc sách thì tin lời tôi nói. Lần nào về Việt Nam tôi cũng dạo một vòng. Kỳ rồi tôi thấy mấy cuốn sách về Phật học, kỳ rồi tôi tìm được cuốn Phật giáo Tây Vực, Phật giáo Đôn hoàng,.. rước về thôi, chứ tôi không quan tâm.
Mình sống ở đời phải gạn đục khơi trong, chiết trung, nhắm cái gì cần cho mình, mình đòi hỏi kiểu cầu toàn khó lắm, trong khi đời vốn bất toàn. Chỉ đơn giản vậy thôi.


Hỏi:
Tập trung vào các hoạt động nghệ thuật như vẽ tranh, chơi nhạc cụ (một cách lành mạnh) có lợi ích hay tiềm ẩn nguy cơ gì với người thực hành thiền định, chánh niệm hay không?
Đáp:
Cái gì trên đời cũng có nhiều cấp độ, mức độ, trình độ.
Mình muốn khu vườn vài mẫu, vài trăm mét vuông hay khu vườn kiểu người dân Tokyo, khu vườn 3m2, trong nhà người Nhật ở Tokyo có những vườn cát, vườn cỏ, vườn sỏi trong góc không gian bé xíu sau nhà để di dưỡng tinh thần, khu vườn bà Hoàng ở Thái Lan mây chục mẫu ở Chiang Mai,... Cái nào cũng là vườn hết; Rồi thức ăn cũng vậy, mình muốn khách sạn nhà hàng 5 sao, hay quán cóc ven đường, bà nội trợ nấu cho chồng con ăn... cái nào cũng là nấu ăn hết. Nấu ăn cho nguyên thủ thế giới cũng là đầu bếp, nấu cho quán cóc cũng là đầu bếp, nấu cho người nhà ăn cũng là đầu bếp.
Tu hành cũng có nhiều mức độ, nhiều cấp độ, mình muốn miên mật rối ráo phải học giáo lý. Học bao nhiêu thì tùy. Có người thuộc lòng tam tạng, có người thêm chú giải, có người vài bộ kinh, có người đọc vài cuốn sách, có người tham dự vài khóa thiền, nghe vài băng giảng là giáo lý của họ.
Còn đời sống chánh niệm thì có người là hành giả bậc 1, 2, 3. Tùy mình ở cấp nào thì hành trì ở mức độ mình đã chọn, khả năng mình cho phép.
• Hành giả bậc hạ: Sau giờ thiền hành, thiền tọa là bung ra muốn làm gì thì làm, đua xe, shopping, ăn nhậu, bài bạc,... tha hồ, cứ đúng giờ thiền hành thiện tọa bao nhiêu đó. Sau giờ tu hành có thể sống bất thiện, không ai cản mình hết.
• Hành giả bậc trung: Sau giờ thiền tọa thiền hành làm toàn việc lành nhưng thất niệm: hái rau, chùi cầu, quét nhà, lau tượng, hút bụi, hốt rác, ... nhớ thì niệm, quên thì thôi, nhưng làm toàn việc lành.
• Hành giả bậc thượng: Không tu bằng đồng hồ, sáng dậy vừa giật mình thức giấc là chánh niệm suốt từ trên giường bước xuống, xuống phòng khách, đi làm... luôn luôn sống trong chánh niệm cho đến đi vào giấc ngủ thì thôi. Chánh niệm liên tục. Với họ ngồi bao lâu không quan trọng, tùy hỷ, tùy duyên. Thấy tiện thì ngồi. Nằm một lát cũng chánh niệm tới ngủ thì thôi. Mở mắt là chánh niệm. Chánh niệm và nhận diện cái gì đang diễn ra, đang xảy ra, đang hiện hữu.
Tự xét coi sức mình là hành giả hạng nào. Còn sinh hoạt văn nghệ chỉ cần là cư sĩ không là vấn đề.
Tôi nhớ đọc câu trả lời cô gái cho một thanh niên theo đuổi: Đối với em tiêu chuẩn một người đàn ông đơn giản lắm, gia thế mờ ám, bị pháp luật truy nã, xấu trai, nghèo khó, nghiện ngập chích hút, không chí tiến thủ, học hành dốt nát, mặt mũi xấu hơn người, tứ chi đảo lộn, ... đối với em không vấn đề, miễn là anh đừng cưới em thôi.
Thế giới này là tùy duyên. Nhớ: Đừng để mình sa đà đổ đốn. Mức độ tu tập thì tùy duyên.


Hỏi:
Xin Sư chia sẻ kinh nghiệm đọc sách (ngoài Chánh Kinh) như thế nào và với nội dung gì để hợp với tinh thần Chánh Pháp và hỗ trợ tu tập?
Đáp:
Chú giải Pháp cú nói:
• Biết đạo thời tuổi trẻ: ¾ thời gian học, 1/4 hành
• Biết đạo trung niên: nửa học nửa hành
• Biết đạo khi lớn tuổi mà khỏe mạnh: 3 hành – 1 học.
• Thời cận tử : 100% hành
Không phải lúc nào học cũng tốt. Học = Ghi chép, rà mắt lên sách vở, tài liệu. Thứ hai là đọc sách gì thì mình coi nhu cầu của mình, không ai nói dùm được hết. Mình học Phật để trở thành hành giả, học giả, giảng sư, gầy dựng đạo nghiệp sênh sang với thiên hạ là học khác, càng rộng càng tốt, Tứ thư Ngũ kinh của Tàu, Upadishad, Bhagavagita, Veda, Tam Tạng Phật giáo, Đạo tạng Lão giáo, Koran của Hồi, Phong thần, Thủy hử, Truyện Kiều, ... cái thứ gì mình đọc được mình đọc. Muốn học trở thành đọc giả huênh hoang, khoác làc thì đọc;
Muốn học để trở thành người chuyên sâu Phật học chỉ học Phật học thôi. Nếu Nam truyền nên học tiếng Tích Lan cổ, Miến Điện, Pali. Bắc truyền thì nên học tiếng Tây Tạng, Sanskrit, Hán. Nếu mình muốn học để bốc phét thì đọc mấy tài liệu bằng tiếng Anh, tiếng Đức, không cần tra bản gốc. Học thành hành giả thì nên có căn bản A Tỳ Đàm. Nhiều người cứ thù oán A Tỳ Đàm như kẻ giết cha, chứ thật ra, cứ học rồi quên, tốt hơn không học.
• Coi mình nhắm đến nhu cầu mục đích gì >> lựa đọc gì
• Chỉ là hành giả thì ví dụ mẹ tôi, lớn tuổi, ít học thì tôi sẽ đề nghị bà: Học căn bản 8 chương A Tỳ Đàm trong bộ Abhidhammatthasangaha, nếu mẹ có thời gian thì mẹ đọc Paṭisambhidamagga, visuddhimagga, 2 bộ niddesa, Atthasalini, samohavinodani – sớ giải 2 bộ A Tỳ Đàm đầu tiên, ...đọc rốt ráo bỏ ăn bỏ ngủ 10 năm thôi, dốt không hiểu đi hỏi đó, 10 năm.
Sách gì thì tự quý vị trả lời chứ không phải chúng tôi.
MÌnh học làm võ sư mở võ đường thì học khác. Học tự vệ thì học khác, học đi làm bảo vệ cho mấy công ty là học khác, học võ làm công an thì học khác. Võ bị Đà Lạt cũng dạy Thái cực đạo, Judo, ... học để ra trường làm sĩ quan thì học khác. Chứ không phải học võ lúc nào cũng trình độ giống nhau vì mục đích khác nhau mà.


Hỏi:
Tại sao A Hàm và Nikāya là 2 bộ khác nhau nhưng lại có lịch sử kiết tập giống nhau?
Đáp:
Chuyện đầu tiên, bên Nam truyền chỉ nói đến 6 kỳ kết tập. Buổi đầu toàn bộ Tam Tạng chỉ có 5 Nikaya thôi : Dīgha nikaya – Trường bộ; Majjhimanikaya – Trung bộ; Samyuttanikaya – Tương ưng bộ; Anguttara nikaya – Tăng Chi bộ; Khuddhakanikaya – Tiểu bộ . Buổi đầu tạng A Tỳ Đàm & Tạng Luật được xếp chung vào 5 Nikaya. Gọi là Pháp & Luật. A Tỳ Đàm được xếp vào Tiểu Bộ. Gom chung hết, chỉ có Luật tách riêng; Còn lại gọi là Pháp.
Còn A Hàm, chúng tôi nói từ góc độ một người Nam truyền nha.
A Hàm là một tập đại thành của một phần kinh tạng Pali và một phần Chú giải. Coi lại trong A hàm chúng ta thấy rất nhiều bài kinh kể chuyện đời sau mà trong Nikaya vốn dĩ không có, như những giai thoại về vua A Dục- xảy ra 300 năm sau khi Phật tịch thì trong Nikaya không nói, trong Sớ giải nói. Chánh kinh Nikaya không có. Nhưng A Hàm thì có.
Nói về sử tính một văn bản thì phải xét nhiều khía cạnh. Thí dụ về ngôn ngữ học, tiếng Anh thời Trung cổ anglosaxon, tiếng Ánh thời Shakespear khác thời Charles Dicken, thời Harry Porter khác internet. Đó là về ngôn ngữ học. Tiếng Phạn trong Patañjali khác tiếng Phạn trong Pháp hoa, Lăng già. Tiếng Việt thời Hàn Thuyên, Nguyễn Trãi khác thời Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan, khác thời Paulo Huỳnh Tịnh Của, Hồ Biểu Chánh, Tự lực Văn đoàn, khác tiếng Việt hậu cách mạng. Đó là về mặt ngôn ngữ học. Phải cẩn thận cái đó. Về ngữ học, bản Phạn của A Hàm không còn, còn rải rác hoặc được phục dựng thôi.
Thứ hai là xét tới nội dung, trong đó là sự pha trộn một phần kinh tạng Pali một phần Sớ Giải/ commentary của đời sau.
Nói về chuyện kiết tập, khi nội dung khác nhau thì thời điểm kiết tập của A Hàm, từ góc Nam truyền khi nó đã là sự chắp vá thì nó cần thời gian dài không phải được ra đời theo thời gian cụ thể vì nó là sự chắp vá, còn hậu sử đời sau thì họ có thể họ nói thời điểm ra đời của Câu Xá, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa,.. gì đó thì tùy.
Bên Nam truyền, thứ nhất phải xét nội dung, thứ hai là vỏ ngữ học, thứ 3 là lịch sử. Bên đây kể rất rõ, kỳ kết tập 1 ở đâu, thời điểm nào, có bao nhiêu vị A xà lê tham dự kiết tập, thời gian bao nhiêu. Kỳ đầu 3 tháng, kỳ sau 7 tháng, kỳ thứ 6 là 2 năm (1954-1956).
Nhớ, cái này quan trọng: Lịch sử cũng là một ngành khoa học, nó như khảo cổ. Đã là khoa học phải lạnh lùng, không thể vì tự ái, tự tôn, vì quan điểm đố kỵ bài xích rồi phủ nhận sự thật lịch sử. Nhiều khi chúng ta bị cuốn hút bởi cảm xúc, cảm tính cá nhân chúng ta bất chấp tìm mọi cách đi bảo vệ thứ mà bản thân nghi ngờ. Nếu mình bình tĩnh mình nghĩ 2 chuyện:
• Mình đang gieo họa chúng sinh
• Chính mình tự lừa mình
• Trăm năm là chớp mắt, mai này nằm xuống, sự nghiệp mình để lại ai xài khi đó là một sản phẩm lừa dối?
Nhớ cẩn thận.


Hỏi:
Những điều kiện để nghiệp thiện được trổ quả là gì?
Đáp:
Có rất nhiều cách nói, nói gọn là 3 nền tảng sinh tử:
• Tiền nghiệp: Kiếp xưa làm nhiều việc xấu, thì kiếp này đọa ngập đầu thì thiện nghiệp khó trổ.
• Khuynh hướng tâm lý : Có những thiện nghiệp đòi hỏi thiện tâm mới trổ được. Thí dụ kiếp xưa gieo nghiệp thân cận bạn lành nhưng đời này sanh ra sân si, cực đoan, chủ quan,.. thì thân cận bạn lành không giúp được gì anh. Chung quanh anh toàn người tu hành chánh kiến, trí tuệ ngút trời nhưng khuynh hướng tâm lý không cho phép anh đón nhận họ; khuynh hướng tâm lý như vậy sống ở môi trường nào cũng không được lợi ích gì hết; anh thích đá gà, sân si, tị hiềm đố kỵ thì nhiều quả lành trổ không nổi.
• Môi trường sống: Sống ở đâu, có một số môi trường sống vô số thiện nghiệp trổ không nổi.
Luật Nhân Quả có 4:
• Nhân tạo ra Quả: Nhân thiện tạo Quả sướng thân sướng tâm, Nhân ác tạo Quả khổ thân khổ tâm, đưa vào các cảnh giới sa đọa. Nó cho 2 thứ nghiệp: Tái sinh & Bình sinh. Tái sinh vào cảnh khổ - bình sinh chịu khổ; hoặc tái sinh cõi lành, bình sinh được hưởng quả lành.
• Quả tác động Quả: Do quả thiện ác đời trước giờ sanh ra môi trường nào đó dễ dàng nhận quả lành hay quả ác. Thí dụ, do quả xấu kiếp này làm con chó, trong hình hài con chó đâu được quyền lợi của con người - tôi đâu đi tranh cử thủ tướng, tổng thống gì được, tôi đâu được lên báo chí truyền hình, xin chữ ký,.. Do quả làm con chó tôi phải nhận những quả tương ứng thân phận, hình hài một con chó.
• Quả tác động Nhân: Do quả nào đó trong quá khứ bây giờ tôi làm thiện, hay làm ác dễ hơn. Đầu thai gia đình theo Hồi giáo là đâu đi nhà thờ Catholic được, sanh vô nhà thờ Chúa đâu theo Chùa được. Sanh vô nhà giàu bị dính mắc trong tình cảm, tài sản, quyền lực, bao nhiêu ràng rịt của thế gia hào môn mình cũng sinh hoạt tù đày lắm, nghèo tí ổn rồi nhưng do có thân phận nên khó lắm. Nhiều khi do Quả xấu hay Quả tốt mà nó làm mình dễ thở hay khó thở hơn. Nhiều khi quả xấu làm mình dễ thở hơn, nhiều khi quả lành trổ làm mình bị ngạt thở hơn. Ngạt là không sống thiện như ý mình muốn được. Hoặc có trường hợp Quả trồ làm mình sống thiện dễ hơn hoặc sống ác dễ hơn.
• Nhân tác động Nhân: Nhiều đời thiện giờ sanh ra dễ làm thiện, thấy người ta khổ dễ chạnh lòng trắc ẩn; nhiều đời hung đồ ác sát, máu lạnh thì đời này sanh ra không biết thương ai, không quan tâm đời sống tâm linh tinh thần, cơm gạo áo tiền có chút đỉnh ăn chơi hưởng thụ, sa đà, không để ý tâm linh tinh thần. Kiếp xưa mình từng sống nhân nào giờ quay lại theo thói quen.


Hỏi:
Bốn người sanh cùng ngày với Bồ Tát Siddhartha là những vị nào ạ?
Đáp:
Một là muốn thử tôi – thì không nên; Mấy cái này coi sách được. Ngài Anan, bà Ya-du, ngài Kaludayi. Người sanh cùng ngày Bồ Tát thì nhiều, mấy người không mắc mớ tới ngài cũng sanh cùng ngày với ngài nhiều lắm.
Chúng tôi dành ngày chủ nhật là để giúp bà con những cái bà con phải đọc nhiều. Mấy cái này mở sách, có google.


Hỏi:
Hành giả sơ cơ thì nên học lộ trình như thế nào, và nghiên cứu kinh tạng từ đâu? Con luôn bị tâm tham dẫn dắt, cảm giác sợ học không đủ và luôn muốn trạng thái hoàn hảo.
Đáp:
Nghe lại câu hồi nãy.


Hỏi:
Tại sao có những thời kì các vị Phật Chánh Đẳng Giác không để lại giáo pháp sau khi nhập diệt?
Đáp:
Duyên.
Công hạnh, Công đức, Trí tuệ, lòng đại bi, khả năng, mọi thứ của chư Phật không khác nhau 1 gram, 1 nanometre nào hết. Nhưng tùy duyên của chúng sinh mỗi thời kỳ mà các Ngài có cách hướng dẫn khác nhau.
Vào Tạng Luật, quyển đầu tiên, phần nửa cuốn đầu bộ Mahāvagga nói rất rõ, có những vị để lại giáo pháp có hệ thống quy mô hoành tráng như đức Phật Thích Ca Mâu Ni, vì duyên chúng sanh thời đó các Ngài có những pháp thoại rời rạc, sáng gặp ông A, chiều gặp ông B, sáng vua, trưa ăn cướp, chiều kỹ nữ, tối học giả thí dụ như vậy. Mỗi người tùy duyên các Ngài có những pháp thoại khác nhau, đệ tử về sau kiết tập lại thành hệ thống kinh điển mênh mông, bao la, hoành tráng và bát ngát. Có những thời chúng sanh đơn giản, đi học đạo một lần là một rừng người chứ không rời rạc như đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhiều khi có 1 người, 2 người loe ngoe, nhiều trường hợp là đích thân Ngài phải tới gặp họ nữa. Còn chư Phật quá khứ và tương lai có nhiều vị sanh ra trong thời chúng sanh đơn giản. Tôi nghĩ chắc mấy người đó là Việt Nam, Việt Nam được cái hiệu ứng đám đông. Mình không có chủ kiến độc lập. Việt Nam là cái gì đông mới vui, một người đề xướng cả đám đi theo. Chính do cái nền tảng tư duy, nền tảng tâm thức nên khi gặp Phật các Ngài cũng theo hệ tâm thức đó, các Ngài thuyết pháp gọn lắm. Cứ lần độ ít ít là vài ngàn, nhiều nhiều là vài trăm ngàn, vài chục; Các Ngài cứ gom nguyên hội chúng, Ngài nói mấy câu thôi: Hãy giữ tâm thế này, đừng để tâm thế kia, vài câu là đắc cái rẹt, thành Thánh hết; cứ năm bữa nửa tháng có vài trăm ngàn người tới, vài chục ngàn, vài ngàn người tới, các Ngài cũng thuyết theo cách đó.
Đó là lý do tại sao có những thời kỳ chư Phật không để lại giáo pháp là như vậy. Sau khi phái đoàn thánh nhân tịch hết thì không có hệ thống giáo pháp lưu lại, như đức Phật Thích Ca Mâu Ni, và những vị Phật được sinh ra trong hoàn cảnh tựa tựa Phật Thích Ca Mâu Ni.


Hỏi:
Xin Sư giải thích từ Dhammānudhamma. Có thể hiểu là "thuận pháp" trong "tuỳ duyên thuận pháp" không ạ?
Đáp:
Trong Kalama nói rồi.
Dhammānudhamma = Thực hành Tam học và những gì hỗ trợ gián tiếp cho Tam học. Thí dụ mình tu tứ niệm xứ, phải coi cách ăn, cách ở, cách thân cận thầy bạn của mình, đó là những thứ hỗ trợ.
Trong Chú giải nói:
dhamma= 9 pháp siêu thế
anudhamma = những cái gì thuận ứng tinh thần 4 Đạo 4 Quả, cái gì thuận ứng tinh thần giác ngộ, giải thoát.
Mình bây giờ thì tùy có mỗi vị có cách diễn dịch khác nhau.
Cách đây mấy năm có người họ mượn cách hỏi chúng tôi để công kích ai đó. Chẳng hạn hỏi về chùa Ba Vàng, Tam Chúc, hiện tượng xã hội như thầy Minh Tuệ. Họ đến không phải vì hỏi giáo lý mà muốn mượn tay chúng tôi khuấy động một góc xã hội, nên cẩn thận cái đó.


Hỏi:
• Tuỳ hỷ chỉ khởi tâm, không khởi hành động có được phước vật như người được làm thiện không?
• Tiến trình tâm của tuỳ hỷ trong A Tỳ Đàm như thế nào?
• Vui với nhân lành và vui với quả lành của người khác thì việc nào cho phước báu lớn hơn?
• Quả của người tuỳ hỷ có khi nào lớn hơn quả của người làm công đức không?
Đáp:
Bốn cái tôi trả lời một câu một thôi: Không học A Tỳ Đàm căn bản mới lòi ra thắc mắc này.
Chuyện thứ nhất - Mắc chứng gì lôi riêng tùy hỷ ra coi lộ trình tâm thức của nó? Tùy hỷ là một tâm sở như bao tâm sở khác. Mấy cái kia có lộ trình diễn biến sao Tùy Hỷ y chang vậy.
Chuyện thứ hai - Phước của người tùy hỷ lớn bằng, lớn hơn hay kém so với người làm? Không chị học giáo lý - Mình phải coi người làm làm với tâm gì. Giống như mình đi hỏi câu khơi khơi: Cơm má tôi nấu ngon bằng mấy bà hàng xóm không? Mình phải hỏi má tui nấu bằng gạo gì, củi lửa ra sao, nồi gì.. coi Má là một định đề tuyệt đối, mấy bà hàng xóm cũng là định đề tuyệt đối. Sai rồi. Mình không thể nói cơm má tôi nấu ngon hơn hay dở hơn hay y chang mấy bà hàng xóm, mình phải coi loại má nấu, củi lửa của má, nồi má nấu là nồi đất hay nồi kim loại hay nồi thủy tinh hay nồi cơm điện bằng nhôm. Nhiều loại nồi lắm. Ở đây cũng vậy. Người tùy hỷ có trường hợp phước nhiều hơn chính chủ. Người ta dâng y bằng tâm thiện thụ động, yếu ớt, tiếc của, phân vân, ngại ngần, người ta bỏ bạc tỷ làm thí chủ; người chính chủ vì 800 lý do có thể người ta không hoan hỷ bằng; trong khi mình vô chùi nồi rửa chén, có thể công đức mình lớn hơn.
Hãy nhớ rằng: Người thí chủ và người tùy hỷ phải Coi họ sống trong tâm trạng nào. Tùy hỷ xìu xìu ển ển sao phước nhiều bằng thí chủ. Thí chủ xìu xìu sao bằng người tùy hỷ.
Đúng ra tôi không trả lời dài vậy đâu, nhưng dành cho mấy người có lòng mà không biết gì. Cái này không học A Tỳ Đàm kẹt lắm. Tới hồi đi hành thiền nó lòi ra mấy cái này nè, hoang mang bỏ đạo luôn. Hỏi thì ông nói gà, bà nói vịt. Làm ơn học giáo lý căn bản dùm, đi tu thiền nó sướng hơn cái gì hết thảy. Khỏi thắc mắc mấy cái lắt nhắt này.
Không chịu học, tối ngồi thiền thấy bà má chết 8 năm về đứng đầu giường là dẹp khỏi thiền luôn, cứ hoang mang suốt đêm không biết tại sao, do thương thấy má hay má bị đọa, hay má đã siêu về muốn nói gì với mình. Trong khi người học giáo lý mấy cái đó người ta không thắc mắc. Mà không chịu học. Cứ giữ tâm khơi khơi vô chấp vô niệm muốn đắc gì thì đắc.


Hỏi:
[4 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp] là [4 asankhyeya mahākappa và 100 ngàn mahākappa] hay là [4 asankhyeya kappa và 100 ngàn kappa]? Đại kiếp ở đây là mahākappa hay chỉ là kappa thôi ạ? Nếu là kappa thì là kappa của kiếp người hay kiếp trái đất? Con đã đọc trên mạng nhưng do không biết tiếng Pāli nên vẫn chưa rõ.
Đáp:
Asaṇkhayya có 2 nghĩa:
1. Đó là một con số.
2. Là một đơn vị thời gian
Như chữ năm trong tiếng việt
1. là một con số (5) = 4+1 = 3+2.....
2. Là một đơn vị thời gian (năm- 365 ngày, 52 tuần, 12 tháng)
chữ A tăng kỳ có 2 nghĩa:
1. Là một lần tăng rồi giảm tuổi thọ chúng sinh: từ 10 tuổi đến 1 a tăng kỳ năm rồi giảm xuống 10 tuổi. Một cái vậy là một a tăng kỳ kiếp.
2. Thời gian hành Ba La Mật là một con số 10^140 = Một con số 1 cộng 140 con số 0. Nói Bồ Tát hành 4 A Tăng kỳ và 100.000 đại kiếp mình phải hiểu là con số không phải đơn vị thời gian.


Hỏi:
Khi làm việc trong một văn phòng ồn ào, nhiều người nói chuyện phiếm cùng một lúc trong một khoảng thời gian khá dài, con niệm "đang nghe" và "khó chịu" nhưng vẫn cảm thấy bị cuốn vào đó, vẫn nghe hiểu nội dung họ nói, vẫn khó chịu. Con phải niệm như thế nào cho đúng?
Đáp:
Uống thuốc mà ngộ độc vì thuốc. Ăn cơm mà trúng thực vì thức ăn. Cái tội này là do không học giáo lý. Có một bài xài hoài. Đi tu bị chuyện vô nói sư phụ - Nhẫn đi con. Tui vừa ghét vừa chán cái đó. Phật pháp bao nhiêu pháp môn mà đụng chuyện "Nhẫn" là sao? hoặc là "Buông" – nghệ thuật thư pháp, điêu khắc,... cái gì cũng để chữ Buông, "Phật", Mỉm cười... toàn theo xu hướng, thời trang. Có ai nói tình huống nào cũng niệm “nghe” “nghe”?
Tứ Niệm Xứ = Ghi nhận cái gì Nổi bật nhất. Cả 4 niệm xứ - Thân, Thọ, Tâm, Pháp. Không phải tối ngày cứ hít ra hít vô, hoặc đi à, dở à, bước à, nhai à. Cái gì nổi bật nhất thì ghi nhận cái đó. Mình ngồi giữa đám quân Nguyên, Mông Cổ nó um sùm như vậy thì mình không muốn nghe thì có 850.000 cách để giải quyết, một là không muốn nghe thì đứng dậy đi ra – nếu có thể, trong kinh gọi là Parivajjanā – giải quyết vấn đề bằng tránh né, 2 là Bhavanā - Tu tập Thất giác chi, Thất giác chi có 7 coi trong đó coi cái nào mình tu được? Định - Kiếm cái gì quan trọng tập trung vô. Quý vị dám nói không có cái gì mình tập trung không? Kiếm cái gì đọc, đâu nhất thiết ngồi thiền. Bản thân tôi mấy lần khó ngủ tôi kiếm tiếng Việt ba cái khó hiểu, ngoại ngữ kiếm cái gì khó đọc , phải tra từ điển mệt hồi nó ngủ.
Cách một là chú ý cái gì nổi bật nhất. Cách hai là kiếm cái gì vùi đầu mình vô. Cái đáng chú ý là cái gì? - Cái gì nổi bật nhất? Đọc vị chính mình, coi bực mình nó đang có mặt, nó đang có mặt từ cái gì, từ mấy tiếng ồn thì ghi nhận mình đang bực mình, biết sắp nói cái gì bậy bạ, có những biểu hiện gây hiềm khích, gây phiền người khác. Mình phải tự cứu mình chứ, để đứt gân máu sao? Thấy được là đứng dậy bỏ ra. Phòng rần rần là không phải giờ làm việc. Không phải giờ làm việc thì mình rút lui, hoặc lấy headset nhét vô tai là xong, hoặc kiếm cái gì vùi đầu vô, thiếu gì. Ba cái sổ sách, hoặc móc phone kiếm cái gì càng khó hiểu càng tốt. Nói chung là : Kiếm việc để làm việc nào mà mang sức hút lớn, từ tính cao, tự động nó hút. Tôi từng nhập Đại định cellphone ở nhà ga, phi trường sân ga Thụy Sỹ, một rừng người mà tôi móc cái phone ra tôi đọc tôi quên mất tiêu, tàu tới tôi không hay mà. Vấn đề là mình đọc cái gì, coi cái gì, sá gì cái văn phòng. Văn phòng của các vị sao bằng phi trường, sân ga của tui. Vậy đó mà tôi nhập vô rồi là chỉ có nhà ga sập đè tôi mới biết thôi. Tôi nhập vô Điện thoại tam muội, internet tam muội, facebook tam muội, ... thí dụ vậy. Vô đó rồi trời sập không biết.


Hỏi:
Vì sao Đức Phật lại tách riêng Thọ, Tưởng, Thức khi trình bày 5 Uẩn?
Đáp:
Có 800 lý do:
Thứ nhứt - Ngài muốn nêu bật, tô đậm những cái pháp giới làm nên sự khác biệt của chúng sinh, phân định vũ trụ. Có vai trò nổi bật trong đời sống thường nhật của chúng sinh.
Thí dụ - Thọ. Học lơ mơ không thấy Thọ quan trọng. Cái gì làm anh vui, làm anh buồn, cảm giác nào anh muốn theo đuổi, trốn chạy, tống khứ? Nhìn vào đó tôi biết con người anh, ở cõi nào. Trên Phạm thiên không có tâm sân, không có thọ ưu, họ không có gì trốn chạy, tống khứ hết, chỉ có cõi Dục. Trong cõi Dục - cái gì làm người đó dễ chịu? Pháp thiện/ Pháp ác? Cái gì làm người đó khó chịu? Pháp thiện/ Pháp ác? Người lành/ người ác? Trú xứ, chỗ ở, phong cảnh, tạo vật, những chi tiết sinh hoạt thường nhật cái gì làm người này vui, buồn, khó chịu, dễ chịu, cái đó quan trọng lắm.
Tưởng - Toàn bộ thế giới chỉ có 3 cách nhìn:
• Nhìn bằng Thức, qua 6 giác quan đơn thuần không thiện ác
• Nhìn qua Tưởng, qua kinh nghiệm hồi ức, liên tưởng hình dung, kiến thức, tưởng tượng. Chính cái tưởng làm nên vũ trụ:
◦ Dục tưởng - những quan niệm, khái niệm, concepts, opinions, kiến thức hồi ức về thế giới vật chất: Vuông- tròn, dài – ngắn, gần- xa, trong – ngoài, trên- dưới, đầu – cuối, mập - ốm, trắng- đen, cao- thấp,.. chính những cái đó là Dục tưởng, những khái niệm, quan niệm, kiến thức, hồi ức, làm nên thế giới Vật chất - Dục giới.
◦ Thiền Tưởng - Với người tu thiền gom hết vô lượng vũ trụ vào mấy đề mục: Đất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ, trắng, hư không, ánh sáng.
◦ Quán tưởng - Kiến thức buổi đầu của người hành giả tuệ quán: Đi biết đi, ngồi biết ngồi, ăn uống, nhai nuốt,.. đều biết rõ. Sau đó thì cái biết bằng Trí, biết cái đó là cái gì, Thiện/ ác, nên/ không nên, nhân/ quả, vô thường/ khổ/ vô ngã, uẩn/ xứ/ giới/ đế, duyên khởi, duyên sinh... là cái biết của Trí. Tưởng nó rất quan trọng.
Thức : Chính Thức là sự phân định vũ trụ. Có những cảnh giới không đủ 6 thức: Cõi Dục giới đủ 6 thức; Phạm Thiên Sắc giới - 3 thức, Phạm Thiên Vô Sắc – 1 thức; Phạm thiên vô Tưởng không có thức nào hết. Mấy cái này rất quan trọng. Tùy cõi có đủ 6 thức hay không, ở cõi đủ 6 thức thì tùy chúng sinh, tiền nghiệp, khuynh hướng tâm lý, môi trường sống mà thức biết trần nào, bất toại hay như ý; 6 Thức như nhau người sống nhiều với thức nào, có người xài mắt nhiều, lưỡi nhiều, ý nhiều,... Thức rất quan trọng. Nó là khung sườn của vũ trụ, là nền tảng tư duy nhận thức, cảm thụ đời sống, làm sao nó không quan trọng được?
Cách phân tích đó không phải tuyệt đối. Có lúc Phật không phân tích thế giới qua 5 Uẩn, có lúc Ngài phân tích Danh – Sắc; Tâm & Vật; Có lúc Ngài chia 18 giới... Không phải lúc nào cũng 5 Uẩn.


Hỏi:
Trong kinh Đại Bát Niết Bàn có câu: "Hãy tự là hải đảo, hãy lấy Chánh Pháp làm chỗ nương tựa". Vậy trong thời đại ngày nay, đối với người sơ cơ, chúng con dựa vào những tiêu chí nào để biết đó là Chánh Pháp để tu tập ạ?
Đáp:
Từ thời Phật ra đời cho tới Phật tịch gần 3000 năm không có thời nào lời dạy đó lỗi thời. Ngay cả thời đức Phật còn các vị tỳ kheo, cư sĩ cũng phải lấy Pháp làm thầy, mặc dù mỗi ngày gặp Phật, mỗi ngày mỗi giờ thương kính Phật nhưng đều sống theo Pháp.
Sống theo pháp = Sống theo cái gì Phật dạy, theo cách Phật sống, Phật ăn, Phật ngồi, Phật nói, Phật im lặng. Đó là Pháp hết.
Thời nào cũng vậy. Thời này, chuyện đầu tiên - Đừng để bị cuốn hút bởi khinh, trọng, thích, ghét trên bất cứ đối tượng nào. Vì thời này thánh hiền hơi hiếm, mình cứ đu theo cá nhân nào vì lòng thương kính rất nguy hiểm mà mình bất mãn cá nhân nào cũng là chuyện không cần thiết. Thời này chỉ có cái: Tự học được hay không? Học giáo lý. Tự tu được hay không? Nếu không phải kiếm chỗ nào mình thấy tin cậy trong nước và ngoài nước. Còn hỏi chỗ nào thì làm sao tôi nói. Ai biết căn cơ các vị hợp cái gì. Có nhiều người họ không cần ông thầy thuộc lòng Tam tạng, họ chỉ cần ông thầy ăn nói nhỏ nhẹ, răng trắng, trán rộng, tai dài, giọng nói truyền cảm, dạy họ đúng một pháp môn – Niệm Phật là đủ rồi. Rồi có ông thầy mình phải gần ổng, ổng dắt lên rừng, lên núi làm rẫy, thỉnh thoảng ổng nói cho 2,3 câu mà mình tu được. Có kiểu tu đó. Có ông thầy giao cho bình bát, ổng đi trước mình đi sau, đi ăn xin xong về ra nghĩa địa ngồi ổng phán cho vài câu, cũng được; có trường hợp ông thầy là học giả, đưa cho 20 bộ kinh, kêu mình nhai cho hết, nuốt cho sạch, cũng là một cách.
Tôi đâu biết quý vị là ai. Cũng câu này. Nội dung gần giống hồi nãy: Phải xác định lý do, mục đích, nhu cầu khi tìm đến Phật pháp. Xác định được rồi mới có câu trả lời là mình phải học cái gì, theo ai, mức độ nào, cường độ nào s./.


Mục lục
    1. Pháp đàm 04/09/2022
    2. Pháp đàm 18/09/2022
    3. Pháp đàm 25/09/2022
    4. Pháp đàm 02/10/2022
    5. Pháp đàm 09/10/2022
    6. Pháp đàm 16/10/2022
    7. Pháp đàm 23/10/2022
    8. Pháp đàm 30/10/2022
    9. Pháp đàm 27/11/2022
    10. Pháp đàm 04/12/2022
    11. Vấn đáp – 06/07/2025
    12. Vấn đáp – 13/07/2025
    13. Vấn đáp – 20/07/2025
    14. Vấn đáp – 17/08/2025
    15. Vấn đáp – 05/10/2022

    ← trở về trang Vấn Đáp

    © www.giacnguyen.com